• ĐTVP: 0243.9421865 - Bạn đọc: 0243.9423227 - Tâm Giao: 024.37350555
  • Liên hệ Quảng cáo: 0243.8223989
Thứ năm, 22/08/2019 - 15:48
FaceBook

PNTĐ-Bài thơ là tiếng nói đong đầy thương yêu và đồng cảm với những vất vả, hy sinh của người ở hậu phương có chồng đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

 
Anh biết rằng em mòn mỏi chờ trông
Cứ đằng đẵng tháng năm dài xa cách
Một kiếp người, đâu có còn kiếp khác
Em chẳng thể nào hóa đá đợi anh
 
 
Anh biết rằng em chịu mọi hy sinh
Lo cho anh suốt chặng đường sinh tử
Trăm việc hậu phương mẹ già, con nhỏ
Đêm khuya về chết nửa giấc mơ em
 
 
Nếu biết rằng em oán ghét chiến tranh
Sao họ cứ chất chồng thêm tội ác
Nếu trái đất không đạn bom hủy diệt
Nhân loại này sẽ tươi đẹp biết bao
 
 
Vẫn biết rằng em chẳng ước cao siêu
Anh sẽ trở về sau ngày chiến thắng
Em chẳng muốn chồng mình là Thánh  Gióng
Dù muộn mằn đã cạn những ngày xanh
 
 
Chỉ tiếc rằng phải gánh vác cuộc chiến tranh
Nếu có được có thêm nhiều đời nữa
Sống để yêu thì bao nhiêu cho đủ
Một cuộc đời đâu thỏa một tình yêu!
 
Tạ Bằng
 
Tình yêu là điều kỳ diệu mà tạo hóa ban cho con người và cũng là nguồn cảm hứng bất tận của nghệ thuật. Đọc những bài thơ các đấng mày râu viết cho vợ của mình, tôi thật ấn tượng với bài “Thơ viết cho em” của Tạ Bằng in trong tập “Sóng đời mây gió” (NXB Hội nhà văn 9/2018).
 
Bài thơ là tiếng nói đong đầy thương yêu và đồng cảm với những vất vả, hy sinh của người ở hậu phương có chồng đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
 

 
Mở đầu bài thơ, tác giả nêu lên thực trạng phổ biến trong cuộc sống thời chiến ngày ấy: chồng ra trận, người vợ ở nhà không chỉ khó nhọc gấp đôi trong công việc mà còn phải sống trong cô đơn, đợi chờ thấp thỏm và lo âu. Chủ thể trữ tình hiểu rõ điều đó: “Anh biết rằng em mòn mỏi chờ trông/ Cứ đằng đẵng tháng năm dài xa cách/ Một kiếp người, đâu có còn kiếp khác/ Em chẳng thể nào hóa đá đợi anh”. Các từ láy “mòn mỏi”, “đằng đẵng” trong khổ thơ cùng với việc mượn tích chuyện nàng Tô Thị chờ chồng đến hoá đá, người viết càng khắc sâu thêm nỗi cô đơn ở người thiếu phụ.
 
Không những thế, người đi thấu hiểu bao hy sinh và những gánh nặng lo toan: việc nhà, việc đồng áng, chăm sóc mẹ già, con dại dồn cả lên vai người vợ tảo tần: “Anh biết rằng em chịu mọi hy sinh/ Lo cho anh suốt chặng đường sinh tử/ Trăm việc hậu phương mẹ già, con nhỏ/ Đêm khuya về chết nửa giấc mơ em”. Những vất vả mưu sinh trong cuộc sống hằng ngày dần làm chết mòn ước mơ tuổi trẻ của người ở nhà. 
 
Điệp ngữ “Anh biết rằng” đặt ở đầu hai khổ thơ đã chứng tỏ sự thấu cảm của người ra tiền tuyến với những nỗi niềm của người ở hậu phương. Khổ thơ tiếp, tác giả liên tưởng, mở rộng cảm xúc và ý thơ và nêu lên giả định “... Nếu trái đất không đạn bom hủy diệt/ Nhân loại này sẽ tươi đẹp biết bao”. Người Việt Nam cũng như nhân loại tiến bộ trên thế giới đều yêu chuộng hòa bình. Không có bom đạn con người mới được an cư lạc nghiệp, mới có cuộc sống an vui, hạnh phúc.
 
Khổ thứ tư của bài thơ, tác giả nói lên ước mong rất bình dị song cũng rất đỗi nhân văn của người vợ: chẳng mong ước chồng mình lập nên kỳ tích chiến công, chỉ mong được hai chữ trở về để gia đình đoàn viên, sum họp: “Dù muộn mằn đã cạn những ngày xanh”. 
 
Khổ thơ cuối khép lại toàn bài là niềm nuối tiếc, dẫu chẳng muốn chút nào nhưng mỗi gia đình của đất nước này đều đã phải trải qua bao thử thách gian lao do chiến tranh gây ra đến độ nhiều lứa đôi muốn được yêu thương, chăm lo, được quan tâm đến nhau nhiều hơn nhưng tuổi trẻ họ đã bị cuốn đi và nhấn chìm trong cuộc chiến. Song, điều đáng quý là chủ thể trữ tình vẫn không nguôi khao khát: “Nếu được có thêm nhiều đời nữa/ Sống để yêu thì bao nhiêu cho đủ/ Một cuộc đời đâu thỏa một tình yêu!”. Ước muốn của tác giả chứng tỏ một tình yêu mãnh liệt, thuỷ chung. 
 
Cả bài thơ là tiếng nói chan chứa yêu thương, thấu hiểu và biết ơn những người vợ, người mẹ đảm đang ở hậu phương. Đó cũng là tiếng nói lên án chiến tranh phi nghĩa gây bao đau thương cho nhân loại và khát vọng về một tình yêu vượt lên giới hạn của đời người.
 
 
Thiện Nguyễn
 
TAG:

Bài viết chưa có phản hồi ! Mời các bạn tham gia đóng góp cho bài viết !