Về thương chiếc nón làng Chuông

Bà tôi đội nón, mẹ tôi đội nón và tôi cũng đội nón từ ngày rất bé, khi theo mẹ ra vườn, khi phơi thóc, phơi rơm; lớn lên thì đội đi làm đồng, đi học.

Bây giờ ít đội hơn nhưng vẫn luôn có một cái nón treo trong nhà. Bởi cứ luôn mặc định một điều, người phụ nữ Việt Nam ngoài áo dài, không thể thiếu nón lá - những chiếc nón thân thương, gắn bó. Và tôi biết, một trong những nguồn gốc của chiếc nón ấy là từ làng Chuông.

Đó là một làng nhỏ thuộc Thanh Oai, Hà Tây đã đi vào ca dao “muốn ăn cơm trắng cá mè, muốn đội nón tốt thì về làng Chuông”. Tôi lặn lội tìm về chốn ấy để tìm dấu tích và những điều thú vị quanh chiếc nón đơn sơ.

Lang thang nơi chợ nón, hỏi han những người dân hồn hậu để biết rằng nghề làm nón đã gắn bó với dân làng hàng trăm năm nay và người ta thường nói người làng Chuông sinh ra đã biết làm nón, dù để một chiếc nón ra đời tốn không biết bao nhiêu công sức, bao nhiêu là kiên nhẫn, tỉ mỉ trong từng công đoạn.

Ảnh minh họaẢnh minh họa

Nguyên liệu chính làm nón là lá cọ được vận chuyển từ rất xa: Phú Thọ, Thanh Hóa, Quảng Bình…trải qua nhiều bước: rẽ lá, phơi lá, là lá, bứt vòng, quay nón, dán nón, khâu nón, lồng nhồi, hơ nón, quang dầu…mới hoàn thành một sản phẩm.

Ngay từ khâu đầu tiên đã phải chú ý sao cho lá không bị dập rách bằng cách dùng chân vò lá cọ trong cát khô có sỏi, đảo đi đảo lại đến khi lá mềm và đầu lá xoăn lại, mình lá tẽ ra mới là đạt. Phơi lá cũng vất vả, nắng quá hay mưa quá đều không đẹp; nắng quá lá sẽ đỏ, mưa quá lá không khô. Làm sao canh cho vừa để từ màu xanh nhạt ban đầu, dưới ánh nắng mặt trời sẽ chuyển dần sang màu trắng bạc. Nhìn mảnh sân chùa bên góc tam quan vững chãi, cổ kính loang loáng màu từ những túm lá hắt lên sao mà ấm áp, thân thuộc. Cứ ngỡ là những sân phơi củ rau mỗi cuối mùa của mẹ. Lại rưng rưng nét gì lạ lẫm, hồn hậu chưa từng bắt gặp. Mỗi túm lá như túm tua rua của đám trẻ con bày chơi đồ hàng hay túm tóc búp bê ngộ nghĩnh. Và để những rảnh lá đó phẳng phiu, người ta dùng chiếc giẻ bọc lại là lượt. Trước kia, họ bọc lưỡi cày hơ trên than củi, giờ đơn giản hơn chỉ cần úp ruột nồi cơm điện, làm nóng bên dưới và miết bọc vải trên lớp lá cho phẳng mịn. Nhìn một cụ già ngồi chuốt lá một cách cần mẫn, nhịp nhàng mới thấy sự kì công và say nghề của người lao động.

Nón làng Chuông nổi tiếng bền đẹp vì có tới 16 lớp vòng. Vòng nón được làm bằng những thanh tre cật vót tròn, nhẵn và đều, các vòng nhỏ dần đến chóp tạo thành khung nón, mỗi nút buộc lại dùng mây thắt lại. Kỳ công nhất là khâu nón, khâu làm sao mà mũi khâu ngắn, lỗ nhỏ để chiếc nón tròn, khít, mịn từ mép lá đến đường khâu; các múi nối, sợi móc khi khâu được giấu kín vào trong để khi nhìn chiếc nón chỉ thấy đều tăm tắp. Khó nữa là khâu quay nón, bởi nó sẽ quyết định thẩm mĩ của chiếc nón. Làm sao để nón phẳng, không hở chóp, lá được xếp không bị cộm.

Tôi nhìn thấy người ta khâu nón khắp nơi ở làng Chuông, từ những căn nhà rìa đường đầu làng đến những gian hàng trong chợ; những bàn tay khéo léo, thoăn thoắt luồn chỉ, đưa kim, từng chiếc tua đỏ được lồng nhịp nhàng, liên tục. Dẫu biết thu nhập từ việc khâu nón không cao nhưng dường như người làng Chuông không đừng được công việc ấy. Đó không chỉ là công việc, đó là mạch sống là hồn cốt của làng mà họ muốn neo giữ - như giữ những phiên chợ nơi này. Những phiên chợ đặc biệt từ thời gian, cách thức mua bán và địa điểm họp.

Ôi những chiếc nón lá - những chiếc nón mang “hình bóng quê hương xứ sở”, những chiếc nón dãi dầu mưa nắng để từ màu trắng tinh khôi ngả dần sang sắc nâu bươn bả; những chiếc nón gắn với gương mặt những người phụ nữ tảo tần đôn hậu thân thương. Tôi yêu những chiếc nón như yêu mảnh đất này, yêu những người mẹ, người chị trong nắng, trong mưa. Nón nhỏ bé mà che cả bầu trời, mang bình yên, ấm áp trở về mỗi căn nhà, trái bếp. Nhìn thấy nón, tôi như nhìn thấy ruộng đồng, lũy tre, dòng sông, mảnh vườn thơ ấu… Và tôi biết, nón lá giờ còn sang cả trời Tây như một biểu tượng độc đáo mà thấm đẫm hồn nước Việt.

Tôi cũng biết nón không chỉ được làm ở làng Chuông, còn có nón bài thơ xứ Huế, nón lá Nam Bộ… Mỗi chiếc nón một vẻ, một nét duyên riêng. Tôi yêu nét duyên lặng thầm của nón làng Chuông như những cô gái của làng.

Bóng ai thấp thoáng
Nón trắng nhấp nhô
Chín hồng đôi má em đứng đợi chờ
Ơi em gái làng Chuông…
                                (lời bài hát chèo).
Càng yêu hơn khi biết rằng vẫn có những con người vẫn đang ngày đêm gìn giữ những điều lặng thầm thân thương ấy!

NHẤT MẠT HƯƠNG

Bạn đang đọc bài viết Về thương chiếc nón làng Chuông tại chuyên mục Phụ san đời sống gia đình của Báo phụ nữ thủ đô. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng liên hệ SĐT: 0243.9421865 hoặc gửi về hòm thư baophunuthudo@gmail.com