Cảnh giác hội chứng tim sau kỳ nghỉ

Chia sẻ

PNTĐ-Theo các chuyên gia y tế, đằng sau mỗi kỳ nghỉ dài ngày, nhiều người sử dụng nhiều rượu bia, đã dẫn đến mắc bệnh lý tim mạch cao hơn mọi ngày thường.

 
Giới bác sĩ vẫn gọi đây là những bệnh nhân do “Hội chứng tim sau kỳ nghỉ lễ”.
 
Uống rượu gây hại cho tim
 
Theo TS, BS Phạm Như Hùng - Viện Tim mạch Việt Nam, hội chứng tim sau kỳ nghỉ được các chuyên gia tim mạch mô tả: Nó được xác định trên những bệnh nhân uống rượu nhiều mà trước đó không có bằng chứng bệnh lý tim mạch vào viện vì những rối loạn nhịp cấp tính và thường gặp nhất là tim nhanh trên thất.
 
Tiến sĩ Như Hùng cho rằng, nghỉ lễ là dịp chúng ta tiêu thụ rượu nhiều nhất trong năm. Hội chứng tim sau kỳ nghỉ lễ được cho là những rối loạn nhịp sau khi sử dụng rượu, đặc biệt là tim nhanh trên thất ở những người trước đó có trái tim hoàn toàn khỏe mạnh. Hệ quả này được cho là tương tự như khi dùng cần sa.
 
Phần lớn rối loạn nhịp này là cơn rung nhĩ. Cơn này thường sẽ tái lập lại nhịp xoang sau 24 giờ. Dù hội chứng này thường hay tái phát lại, nhưng diễn biến lâm sàng của nó thường là lành tính và điều trị thuốc chống loạn nhịp cho những bệnh nhân này nhiều khi không cần thiết. Có một điều chúng ta cũng nên lưu ý là có một số bệnh nhân chỉ cần uống một chút ít rượu cũng có thể gây nên cơn rung nhĩ kịch phát. Nhưng, điều này thường xảy ra hơn ở người uống nhiều rượu.
 
“Có một số cơ chế giải thích rượu có thể gây rối loạn nhịp tim. Rượu làm tăng bài tiết epinephrine và norepinephrine, tăng cung lượng giao cảm, tăng nồng độ axit béo tự do trong huyết tương và tác dụng gián tiếp qua acetaldehyde, là gốc chuyển hóa của rượu hay axít béo”, ông cho biết.
 
Một số nghiên cứu của chuyên gia tim mạch trên thế giới cũng cho thấy, bằng việc so sánh ảnh chụp tim của người không uống rượu và người uống “điều độ”, các nhà nghiên cứu khẳng định uống rượu thường xuyên vẫn có thể gây tổn hại đến cơ quan này. Nhiều bằng chứng trước đây đã khẳng định việc sử dụng quá nhiều rượu làm tăng nguy cơ phát triển nhịp tim không đều.
 
Đến nay, các nhà khoa học đã chứng minh được chỉ hai ly rượu vang mỗi ngày cũng đủ để làm tổn hại các tín hiệu điện điều khiển nhịp tim. Theo các chuyên gia Australia, lượng rượu bia đưa vào cơ thể là một trong những nhân tố chính gây ra chứng rung tâm nhĩ - một dạng rối loạn nhịp tim. Tình trạng này có thể dẫn đến nguy cơ đột quỵ và suy tim. Điều đó có nghĩa thói quen uống rượu bia sẽ kéo theo những vấn đề về tim trong tương lai.
 
Những bức ảnh trong một nghiên cứu được các bác sĩ tại bệnh viện Alfred (Melbourne - Australia) chụp lại và đã cho thấy khả năng truyền điện qua tâm nhĩ - nơi máu đi vào tim. Tất cả 75 người tình nguyện tham gia khảo sát đều bị rung nhĩ và được chia thành 3 loại dựa trên mức độ say rượu của họ. Hình ảnh nghiên cứu cho thấy tim của người không uống rượu hoàn toàn có màu hồng, thể hiện các mô khỏe mạnh và tín hiệu điện có thể truyền qua với cường độ tốt. Trong khi đó, tim của những người uống được cho là điều độ lại có những vết sẹo lớn thể hiện bằng màu xanh lá cây, nơi tín hiệu điện truyền yếu hơn.
 
Lời khuyên thầy thuốc
 
Để không ảnh hưởng đến tim, tiêu chí về một người uống rượu “điều độ” trong nghiên cứu của các chuyên gia bệnh viện Alfred (Melbourne - Australia) nói trên, là những người uống có cồn từ 8-21 lần mỗi tuần - trung bình mỗi người uống 14 lần. Tuy nhiên, con số 14 này cao hơn nhiều so với giới hạn rượu bia được khuyến nghị là 14 đơn vị cồn, tương đương với 9 ly rượu vang hoặc 7 cốc bia.
 
TS, BS Phạm Như Hùng cho rằng, thông thường, tất cả các loại loạn nhịp đều mất đi khoảng 24 giờ sau khi ngừng uống rượu, bia, cơ thể được cung cấp đầy đủ nước, các chất dinh dưỡng và nghỉ ngơi hoàn toàn. Chính vì vậy, cách phòng tránh tốt nhất là tránh say xỉn trong những ngày này. Các biện pháp tiếp theo là bổ sung dinh dưỡng đầy đủ (bao gồm các vitamin, đặc biệt là vitamin B1, vitamin B12... các chất điện giải và các yếu tố vi lượng). Uống đủ nước, không hoạt động thể chất quá sức, dành nhiều thời gian thư giãn cũng góp phần làm giảm tỷ lệ loạn nhịp tim.
 
 
Bình Minh

Tin cùng chuyên mục

Ngành Y tế Hà Nội sẵn sàng bảo đảm công tác y tế phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

Ngành Y tế Hà Nội sẵn sàng bảo đảm công tác y tế phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

(PNTĐ) - Sáng 19/1, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra tại Hà Nội, kéo dài tới ngày 25/1. Nhằm đảm bảo công tác y tế phục vụ đại hội, trước đó, ngành Y tế Hà Nội đã chủ động triển khai đồng bộ các phương án và tổ chức Lễ ra quân thể hiện quyết tâm cao trong việc chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh và sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống y tế trong suốt thời gian diễn ra Đại hội.
Bệnh viện Nam Thăng Long tiếp nhận trụ sở quận Bắc Từ Liêm cũ làm cơ sở y tế

Bệnh viện Nam Thăng Long tiếp nhận trụ sở quận Bắc Từ Liêm cũ làm cơ sở y tế

(PNTĐ) - Sáng 15/1, tại số 10 Phúc Lý, phường Tây Tựu (trụ sở quận Bắc Từ Liêm cũ), đã diễn ra lễ bàn giao, điều chuyển nguyên trạng tài sản công từ UBND phường Tây Tựu sang Sở Y tế Hà Nội để giao Bệnh viện Nam Thăng Long quản lý, sử dụng làm cơ sở hoạt động sự nghiệp lĩnh vực y tế.
Hệ lụy tàn khốc từ bóng cười: Khi ảo giác dẫn lối đến xe lăn

Hệ lụy tàn khốc từ bóng cười: Khi ảo giác dẫn lối đến xe lăn

(PNTĐ) - Không chỉ gây nghiện, bóng cười (khí N2O) đang trực tiếp tàn phá hệ thần kinh và tâm thần của một bộ phận lớn giới trẻ. Những bệnh nhân nhập viện trong tình trạng thoái hóa tủy sống, yếu liệt phải ngồi xe lăn hay loạn thần dai dẳng là minh chứng rõ nhất cho độc tính của loại khí này. Dưới đây là những cảnh báo và phân tích chuyên môn từ các bác sĩ Viện Sức khỏe tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai.
Khởi động dự án “Cộng đồng hạnh phúc”, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe sinh sản và cải thiện tình trạng hiếm muộn

Khởi động dự án “Cộng đồng hạnh phúc”, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe sinh sản và cải thiện tình trạng hiếm muộn

(PNTĐ) - Trong bối cảnh tỷ lệ vô sinh - hiếm muộn có xu hướng gia tăng, trong khi mức sinh tại Việt Nam đang ở mức thấp, nhu cầu được tiếp cận thông tin y khoa chính xác, tư vấn sớm và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản toàn diện ngày càng trở nên cấp thiết. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều người dân vẫn gặp rào cản về kiến thức, tâm lý và khả năng tiếp cận y tế chuyên khoa, đặc biệt tại các khu vực ngoài đô thị lớn, khiến việc phát hiện và can thiệp sớm còn nhiều hạn chế.