Góc tư vấn Hành trang xây tổ ấm:

Quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Vợ chồng vô sinh thì nhờ ai mang thai hộ mới đúng luật. Quyền và nghĩa vụ của người mang thai họ được pháp luật quy định như thế nào?

Chị gái em kết hôn 8 năm nay nhưng bị vô sinh không có con. Em nghe nói hiện nay pháp luật cho phép mang thai hộ. Vậy quý Báo cho em hỏi, bây giờ vợ chồng chị gái em muốn nhờ người mang thai hộ thì nhờ ai mới đúng luật. Khi mang thai hộ người khác thì người mang thai hộ có quyền và nghĩa vụ như thế nào đối với đứa con được sinh ra và với vợ chồng người nhờ mang thai hộ?

                                                                                Lê Giang (Cầu Giấy, Hà Nội)

Trả lời:

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có bổ sung thêm quy định cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (cấm vì mục đích thương mại). Điều kiện để được mang thai hộ cũng được quy định cụ thể. Cùng với đó, quyền và nghĩa vụ của người mang thai hộ rất chặt chẽ, tránh những phát sinh xảy ra gây thiệt thòi cho các bên và đứa trẻ.

(Ảnh: Minh họa)

Về điều kiện người được nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định Điều 95 như sau:

Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây: Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ; Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần; Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ; Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý(khoản 3).

Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản(khoản 4).

Về quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại Điều 97 của Luật, cụ thể:

1. Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.

2. Người mang thai hộ phải tuân thủ quy định về thăm khám, các quy trình sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ Y tế.

3. Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày. Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

4. Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản.Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, người mang thai hộ có quyền quyết định về số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

5. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con.

                                                                                                        Báo Phụ nữ Thủ đô