Nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong giáo dục

Trong những năm qua, Nhà nước đã có nhiều chính sách về bình đẳng giới (BĐG) trong giáo dục, bởi tầm quan trọng của lĩnh vực này. Đó là làm tăng chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn nhiều hạn chế trong thực hiện BĐG trong lĩnh vực giáo dục.

Nhiều chính sách để thúc đẩy BĐG trong giáo dục

Để thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực giáo dục, Nhà nước đã ban hành những Luật, Nghị định, Thông tư cũng như phê duyệt các chiến lược BĐG. Cụ thể, Luật Giáo dục quy định độ tuổi đi học cho các cấp học từ giáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông bình đẳng cho cả nam và nữ, không có sự phân biệt. Nam nữ được hỗ trợ, tạo mọi điều kiện để hoàn thành giáo dục phổ cập, cũng như lựa chọn ngành nghề học tập và đào tạo. Hay, Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014) quy định nam nữ được quyền tự do lựa chọn ngành nghề đào tạo và hỗ trợ người học là phụ nữ, lao động nông thôn khi tham gia các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo dưới 3 tháng được hỗ trợ chi phí đào tạo.

Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 1/9/2017 về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức đã có quy định về chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng đối với các bộ, công chức, viên chức là nữ.

Bộ GĐ-ĐT đã tổ chức hội nghị tập huấn công tác BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo để nâng cao nhận thức về BĐG (ảnh: Int)Bộ GĐ-ĐT đã tổ chức hội nghị tập huấn công tác BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo để nâng cao nhận thức về BĐG (ảnh: Int).

Thực hiện quy định về biện pháp thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo quy định tại Khoản 5 Điều 14 Luật BĐG, nhiều chính sách đã được ban hành, cụ thể quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo (Điểm a, Điều 14). Ngoài ra, Chiến lược quốc gia về BĐG giai đoạn 2011-2020 đã đưa ra hai chỉ tiêu thực hiện BĐG trong giáo dục. Đó là, tỷ lệ biết chữ của nam và nữ trong độ tuổi từ 15-40 ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn đạt 90% vào năm 2015 và 95% vào năm 2020 (Chỉ tiêu 1). Tỷ lệ thạc sĩ đạt 40% vào năm 2015 và 50% vào năm 2020. Tỷ lệ tiến sĩ đạt 15% vào năm 2015 và 25% vào năm 2020.

Thực hiện quy định tại Luật Giáo dục nghề ngiệp, ngày 28/9/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 46/2015/ QĐ-TTg quy định chính sách hỗ trợ đào tạo sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng, theo đó học viên là nữ được hỗ trợ chi phí đào tạo; hỗ trợ tiền ăn, tiền đi lại.

Với trách nhiệm quản lý nhà nước, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã tiến hành lồng ghép giới vào chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông và thực hiện rà soát vi phạm BĐG trong sách giáo khoa hiện hành. Trong thời gian qua, công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức bình đẳng giới cho cán bộ, nhà giáo, ngành lao động của ngành giáo dục đã đạt những kết quả đáng kể.

Bất bình đẳng giới vẫn tồn tại

Báo cáo 10 năm thi hành Luật Bình đẳng giới của Bộ LĐ-TB&XH tại Hội nghị tổng kết 10 năm thi hành Luật Bình đẳng giới tổ chức tháng 10 năm 2019 cho thấy, tỷ lệ biết chữ của nữ giới (từ 15 tuổi trở lên) dù có tăng từ năm 2002 đến nay, nhưng lại luôn thấp hơn nam giới từ 1-4%. Ở độ tuổi THCS, tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường ở trẻ em trai cao hơn trẻ em gái.

Thực tiễn cũng cho thấy, bất bình đẳng giới vẫn thể hiện rõ ở các cấp đào tạo trong lĩnh vực giáo dục. Ví dụ ở các trường đại học, cao đẳng Sư phạm, đặc biệt những trường đào tạo giáo viên cho cấp mầm non, tiểu học, trung học phổ thông trong các trường này sinh viên chủ yếu là nữ. Nhưng những giảng viên của trường thì tỷ lệ giảng viên nữ lại chiếm tỷ lệ khiêm tốn hơn giảng viên nam. Đặc biệt những giảng viên nữ có học hàm, học vị thấp hơn nhiều so với giảng viên nam. Trong tổng số 24.083 giảng viên giảng dạy ở các cấp bậc đại học, cao đẳng trên cả nước, chỉ có 8.708 người là nữ, chiếm tỷ lệ 0,36% tổng số giảng viên.

Sinh viên trường CĐSPTW năm 2019 đang làm thủ tục nhập học đa số là nữ. (ảnh trường CĐSPTW)Sinh viên trường CĐSPTW năm 2019 đang làm thủ tục nhập học đa số là nữ. (ảnh trường CĐSPTW)

Đơn cử như ở trường ĐH Sư phạm Hà Nội, cái nôi đào tạo giáo viên các cấp học cho cả nước có 243 giảng viên nữ, chiếm 37,35% trong tổng số giảng viên. Trong số đó, số nữ giảng viên là giảng viên chính chỉ có 31,62%, số chức danh phó giáo sư chiếm 11,24%, giáo sư 9,09% số giảng viên có chức danh. Số nữ có học vị thạc sĩ chiếm 46,5%, tiến sĩ có 28,17%.

Như vậy, ngay trong ngành giáo dục đào tạo, ngành được coi là nhân văn nhất trong các ngành nghề, BĐG vẫn chưa được thực hiện một cách đầy đủ. Phụ nữ chưa được tạo cơ hội để khẳng định vị trí, vai trò, năng lực của mình.

Vẫn còn nhiều bất cập

Báo cáo 10 năm thực hiện Luật Bình đẳng giới của Bộ LĐ-TB&XH cho thấy, việc thực hiện BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo vẫn còn một số tồn tại. Cụ thể, Luật BĐG quy định về hỗ trợ cho nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới 36 tháng tuổi. Tuy nhiên, sau 10 năm thi hành Luật BĐG, chính sách này mới được quy định chung tại Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. Song vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể để có thể triển khai trong thực tế.

Cơ hội giáo dục cho trẻ em gái và phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số vẫn còn hạn chế. Tỷ lệ trẻ em gái ở các tỉnh miền núi đi học còn thấp, có nơi chỉ chiếm khoảng 10-15%. Nguyên nhân chủ yếu là các em phải ở nhà giúp việc cho gia đình, trường nội trú thường quá xa nhà và ở một số vùng vẫn còn tập quán lấy chồng sớm.

Một tồn tại khác là khoảng cách giới ở bậc sau đại học là khá lớn. Nam giới có ý định học lên cao nhiều hơn so với phụ nữ. Nguyên nhân là do phụ nữ thường gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong con đường tiếp tục học lên cao, vì các lý do liên quan đến gia đình như: kết hôn, sinh con, phụ giúp các việc nội trợ gia đình.
Trong lĩnh vực đào tạo nghề, số lao động nữ tham gia học nghề tăng chủ yếu trong đào tạo sơ cấp và dưới 3 tháng ở trong lĩnh vực may mặc, giầy da, lắp ráp điện tử, du lịch, dịch vụ, chế biến thủy sản và trong sản xuất nông nghiệp. Tỷ lệ nữ tham gia học nghề không đạt được chỉ tiêu đề ra; tỷ lệ lao động qua đào tạo của cả nước còn ở mức cao 87,1%. Trong đó, khu vực nông thôn là 92,8% và khu vực thành thị là 72,2%. Bên cạnh đó, tỷ trọng dân số nữ từ 15 tuổi trở lên không có trình độ chuyên môn kỹ thuật khá cao (88,9%), trong khi số nữ có trình độ đại học trở lên chỉ chiếm một phần rất nhỏ (3,7%).

Nhìn chung, định kiến giới trong giáo dục vẫn còn khá phổ biến. Phụ nữ vẫn bị coi là có khả năng học tập thấp hơn nam giới và không giỏi bằng nam giới trong khoa học tự nhiên. Phụ nữ học cao bị coi là mối đe dọa đối với hôn nhân và quan hệ hôn nhân của bản thân họ. Trong các gia đình, việc đầu tư cho trẻ em gái đi học vẫn thấp hơn đầu tư cho trẻ em trai do quan niệm trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại.

Từ thực tiễn đó cho thấy, việc nâng cao nhận thức BĐG trong giáo dục cần được tăng cường hơn. Các hoạt động truyền thông, giáo dục nhận thức về BĐG cần được thường xuyên, đưa vào chỉ tiêu hoạt động của từng cấp, từng ngành giúp các đơn vị trường học, cán bộ, nhà giáo và người lao động làm trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo thấy rõ những nguy cơ và thực trạng bất bình đẳng giới đang ngăn cản sự phát triển của từng cá nhân, tập thể và lớn hơn là của đất nước.

HẠ THI

Cách cài đặt Bluezone giúp cảnh báo người nghi nhiễm Covid-19

Bluezone là ứng dụng giúp cảnh báo sớm cho người dùng nếu họ chẳng may từng tiếp xúc với những người bị nhiễm Covid-19.
Để nhận được các cảnh báo từ Bluezone, việc đầu tiên cần làm là tải về và cài đặt ứng dụng này.
Link tải Bluezone trên Android
Link tải Bluezone trên iOS
Sau khi cài đặt, người dùng cần cấp quyền cho ứng dụng Bluezone truy cập vào bộ nhớ và kết nối Bluetooth để nhận được cảnh báo từ ứng dụng.
Bạn đang đọc bài viết Nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong giáo dục tại chuyên mục Phụ san Đời sống Gia đình của Báo phụ nữ thủ đô. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng liên hệ SĐT: 0243.9421865 hoặc gửi về hòm thư [email protected]