Bài 1: Đa dạng văn hóa dân gian
Cần cái “bắt tay” trong bảo tồn nghệ thuật dân gian
(PNTĐ) - Những nghệ thuật truyền thống đã từng trải qua thời kỳ phát triển rực rỡ trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam nói chung, người Hà Nội nói riêng đã và đang có nguy cơ bị mai một trước sự phát triển của xã hội hiện đại. Làm thế nào để bảo tồn và lan tỏa giá trị nghệ thuật dân gian, để kho báu ấy giữ được nguyên giá trị văn hóa cũng như hồn cốt tinh thần cho dân tộc là bài toán vẫn đang đặt ra.

Những làn điệu dân ca cổ, những trích đoạn, tuồng, chèo... đã từng là món ăn tinh thần không thể thiếu trong xã hội xưa của người Hà Nội. Dù đã trải qua bao thăng trầm, biến động của lịch sử nhưng lời ca, điệu hát vẫn giữ nguyên giá trị văn hóa của mình làm say đắm lòng người.

Xã Tân Hội, huyện Đan Phượng xưa thuộc vùng Tổng Gối (phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông), nay là xã Tân Hội, huyện Đan Phượng (thành phố Hà Nội) là nơi nổi tiếng với nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo mang tên Chèo tàu. Nghệ nhân ưu tú Ngô Thị Thu, Chủ nhiệm Câu lạc bộ (CLB) hát chèo tàu xã Tân Hội cho hay: Nghệ thuật Chèo tàu đã như ngấm vào máu thịt mỗi người dân nơi đây, làm say lòng người từ xa xưa. Đó là nét đẹp văn hóa, gần gũi với đời sống của người dân vùng đất Tân Hội.

Cũng theo nghệ nhân, loại hình nghệ thuật dân gian Chèo tàu chỉ có ở Tân Hội và có từ khoảng những năm 1683. Cứ 25 năm người dân Tân Hội mới mở hội hát một lần. Hội hát Chèo tàu ở Tân Hội được tổ chức nhằm tưởng nhớ vị tướng Văn Dĩ Thành (1380 -1416), người đã có công đánh đuổi quân Minh xâm lược, bảo vệ quê hương. Nội dung của các bài hát đều là ca ngợi hoặc kể lại những chiến công xưa kia của vị tướng Văn Dĩ Thành. “Điểm độc đáo của Chèo tàu là chỉ có nữ giới mới được tham gia. Đặc biệt, trong một số vai diễn chỉ có thanh nữ chưa chồng mới được đóng vai. Lễ hội cuối cùng được tổ chức là vào năm 1922 cho mãi đến năm 1998 lễ hội mới được khôi phục tổ chức lại. Sau lần đó, đến năm 2015, kỳ lễ hội tiếp theo đã được tổ chức với quy mô lớn nhất từ trước cho đến nay” - Nghệ nhân ưu tú Ngô Thị Thu chia sẻ.

Ở huyện Quốc Oai (Hà Nội) còn có xã Liệp Tuyết được mọi người biết đến với tục lệ 36 năm mới tổ chức lễ hội Hát dô một lần. Theo Nghệ nhân nhân dân Nguyễn Thị Lan thì Hát dô là một loại hình diễn xướng dân gian gắn với lễ hội đền Khánh Xuân nơi thờ Tản Viên Sơn Thánh. Cứ 36 năm, hội Hát dô mới được tổ chức một lần. Trước kỳ tổ chức hội hát, đền Khánh Xuân mở cửa để dân làng làm lễ xin Thánh cho mở sách, sao chép bài hát và kén người tập luyện. Đội hình múa hát có một đến hai người làm “cái” lĩnh xướng cùng 8 - 20 nữ làm “con hát” và múa phụ họa. “Cái” mặc áo the, khăn xếp; “con hát” tóc vấn đuôi gà, cổ đeo chuỗi hạt vàng, mặc áo năm thân. Theo tục lệ xưa, con hát phải là các thanh nữ trẻ tuổi, chưa chồng, gia đình không có “bụi” (để tang người thân). Theo người dân trong xã, từ xa xưa đã truyền rằng nếu ai Hát dô vào ngày thường sẽ bị thánh trừng phạt. Do đó, sau kỳ hát hội, người dân lại cất kỹ tất cả các tư liệu, đạo cụ múa hát, không ai được nhắc đến nữa và 36 năm sau khi mở hội thì mới lại mở ra.


Huyện Quốc Oai không chỉ nổi tiếng với nghệ thuật Hát dô mà còn được nhiều người biết đến bởi nghệ thuật hát Tuồng cổ ở thôn Dương Cốc, xã Đồng Quang. Ông Nguyễn Văn Lý, năm nay đã 73 tuổi, Chủ nhiệm CLB Tuồng Dương Cốc cho biết: Từ xưa, Dương Cốc đã nổi tiếng là "làng ca hát". Thời hoàng kim của Tuồng Dương Cốc phải nói từ năm 1967, khi Nhà hát Tuồng Đào Tấn về làng sơ tán tránh cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Nhận thấy niềm yêu thích hát Tuồng của những người nông dân nơi đây, các nghệ sĩ đã mở lớp dạy nhạc công và diễn viên, tiếp thêm nguồn sinh lực để người dân Dương Cốc say với nghệ thuật Tuồng. “Có những thời điểm, cả làng có đến 90% người dân biết hát Tuồng. Một thời, những làn điệu tuồng cổ rộn rã cả vùng quê. Cho đến nay, Câu lạc bộ tuồng Dương Cốc có hàng trăm vở diễn và đạt nhiều giải cao tại các kỳ hội diễn, liên hoan nghệ thuật các cấp. Điển hình như các vở như: “Máu lửa ngập thiên trường”, "Sáng mãi niềm tin", "Trần Bình Trọng"... đã vang tiếng gần xa” - Ông Lý cho biết thêm.
Góp phần vào kho tàng nghệ thuật dân gian của Thủ đô Hà Nội còn phải kể đến nghệ thuật hát Trống quân ở xã Khánh Hà, huyện Thường Tín. Hát Trống quân là nét độc đáo của mảnh đất này mà ít nơi có. Hát trống quân ở Khánh Hà đặc biệt hơn nhiều vùng miền khác ở chỗ, kép hát luôn tuân thủ chặt ở các chặng hát. Đó là, chặng chào hỏi mở đầu, chặng đối đáp tâm tình, chặng hát hẹn giã biệt. Để hát được trống quân, người hát phải có chất giọng tốt, cao, tròn vành, rõ tiếng. Mỗi nhóm tham gia thường có từ 5 đến 7 người.

Hát Trống quân không chỉ có ở xã Khánh Hà (Thường Tín) mà còn có ở xã Phúc Tiến (Phú Xuyên), xã Hát Môn (Phúc Thọ). Thời xưa, chủ nhân của hình thức sinh hoạt nghệ thuật hát trống quân là trai gái còn chưa lập gia đình. Hát Trống quân thuộc về lối hát đối đáp giao duyên nam nữ có lời ca, điệu hát mộc mạc, dân dã song cũng không kém phần tinh tế, tài hoa trong nghệ thuật ứng tác, bẻ vần. Nội dung các bài Trống quân là nguồn tư liệu quý giá về lịch sử làng xã, địa lý, phong tục tập quán, triết lý nhân sinh… Điểm chung của hát Trống quân là sự dân dã, hồn nhiên của những chàng trai cô gái, những người nông dân tham gia hát đối đáp với nhau, nhưng mỗi nơi lại có một cách hát khác nhau. Diễn xướng Trống quân là một di sản văn hóa có giá trị trong kho tàng văn hóa dân gian của Thủ đô.


Hiện nay, Hà Nội là một trong những địa phương đứng đầu cả nước về các loại hình nghệ thuật dân gian. Theo nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ, Thăng Long xưa - Hà Nội nay là vùng đất phong phú về các loại hình nghệ thuật dân gian thể hiện qua các lễ hội trong địa bàn Hà Nội. Trong mỗi loại hình diễn xướng dân gian cho công chúng thấy sự đa dạng về hình thức, sự sâu sắc về nội dung. Các làn điệu cổ ca trù, hát xẩm, hát dô, chèo, tuồng... được ví như những viên ngọc quý, đầy sức sống của sự sáng tạo. Từ khi ra đời, nghệ thuật dân gian luôn hấp dẫn, đi vào lòng người dân bởi hầu hết các làn điệu ấy đều khẳng định giá trị văn hóa trường tồn, đó là mang tính giáo dục cao về lịch sử, địa lí, con người, đưa ra những bài học giúp con người hướng thiện.

Theo dòng chảy của thời gian, người dân Hà Nội nói chung, các nghệ nhân nói riêng đã góp phần bồi đắp sáng tạo, làm cho các làn điệu cổ theo thời gian phát triển đa dạng, phong phú, tồn tại trong dân gian với nhiều thể loại đặc sắc. Trong đó có thể kể đến như Chèo tàu tổng Gối, hát Trống quân, tuồng, chèo, ca trù, hát xẩm... Đây là những một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo, là món ăn tinh thần không thể thiếu, đã đi vào đời sống của người dân và tạo nên dòng văn hóa lịch sử xuyên suốt. Có thể thấy, mỗi thể loại, làn điệu là mỗi dấu ấn nghệ thuật trong bức tranh văn hóa dân gian đặc sắc của vùng đất này, là nhân tố góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc...

Dù là “độc bản” chỉ có ở một địa phương như Hát dô, Chèo tàu tổng Gối hay khá phố biến trong xã hội như hát xẩm, ca trù, tuồng.., song những làn điệu dân gian ấy đều là “kho báu” đậm đà bản sắc văn hóa. Kho báu ấy đã và đang sống âm thầm trong đời sống đương đại với những giá trị văn hoá bất biến, mang yếu tố trường tồn. Giá trị ấy vẫn luôn và sẽ được khơi gợi trong mỗi người dân Hà Nội để rồi những giá trị ấy được lưu giữ như một kho tàng vô giá của dân tộc.