Ông Vũ Huy Hoàng khai không tác động Sabeco thoái vốn

Chia sẻ

Ngày 23/4, phiên tòa xét xử cựu Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng và 9 bị cáo khác về tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” và “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai” tiếp tục diễn ra với phần thẩm vấn của các luật sư.

Tại phiên toà, bị cáo Vũ Huy Hoàng khẳng định bản thân không tác động, can thiệp hay gây ảnh hưởng tới việc thoái vốn của Sabeco tại Sabeco Pearl vì không có vị thế gì, cũng không có động cơ mục đích gì. “Nếu cần thiết có thể hỏi Sabeco hay Bộ phận quản lý vốn nhà nước tại Sabeco xem tôi có tác động thoái vốn hay không”, cựu Bộ trưởng Bộ Công thương nói và cho biết việc thoái vốn của Sabeco tại Sabeco Pearl thực hiện theo chủ trương của Chính phủ thoái vốn ngoài ngành, do các nhà đầu tư yêu cầu và do Sabeco thấy tiếp tục triển khai dự án không khả thi vì vốn liếng ngày càng tăng.

Các bị cáo tại ToàCác bị cáo tại Toà

“Sau khi có ý kiến của HĐQT Sabeco, sau phân tích lợi ích, rủi ro, Sabeco đề nghị Bộ cho phép thoái vốn. Căn cứ đề nghị như vậy, chúng tôi đồng ý về mặt chủ trương”, bị cáo Hoàng nói và cho biết còn có yêu cầu Sabeco phải đảm bảo lợi ích nhà nước cao nhất. Sabeco đã làm phương án sơ bộ thoái vốn đồng thời họ đề nghị nếu như thoái vốn vẫn cần nơi để làm trụ sở. “Chúng tôi thấy về mặt chủ trương đây là đề xuất của HĐQT phù hợp với chủ trương nhà nước nên chúng tôi đồng ý. Họ đã trình phương án sơ bộ để thoái vốn”, bị cáo Vũ Huy Hoàng nói.

Căn cứ ý kiến, Vụ Công nghiệp nhẹ đề xuất cuộc họp có nội dung xem xét chủ trương thoái vốn và đầu tư trụ sở mới. Do Thứ trưởng Thoa đi vắng nên ông Hoàng chủ trì cuộc họp thay. Căn cứ cuộc họp, văn phòng Bộ có văn bản báo cáo và kết luận cuộc họp. Theo lời ông Hoàng, khi kết luận cuộc họp, ông có phát biểu lấy giá sàn làm căn cứ tham khảo làm giá khởi điểm để thoái vốn. Tuy nhiên, ông không kết luận giá nào mà chỉ nói Sabeco căn cứ quy định pháp luật xây dựng việc thoái vốn đảm bảo đúng pháp luật.

Ông Hoàng khẳng định từ 1/4/2016 trở đi ông không tham gia bất kỳ công đoạn nào. “30/5/2016, Sabeco mới xây dựng phương án thoái vốn chính thức, trong đó có giá, phương thức… Tháng 6 tổng công ty mới tiến hành đấu giá. 30/8 mới báo cáo Bộ Công thương phê duyệt. Toàn bộ quá trình thoái vốn tôi không tham gia, không can thiệp”, cựu Bộ trưởng Bộ Công thương khai tại tòa.

Cũng tại phần này, luật sư đặt câu hỏi các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, trong đó có ông Phan Đăng Tuất (nguyên Chủ tịch HĐQT Sabeco, Phụ trách Bộ phận quản lý vốn nhà nước (BPQLVNN) giai đoạn 2012-2015) với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Theo cáo trạng, ông Tuất là người đã ký một số văn bản báo cáo việc lựa chọn nhà đầu tư theo chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công Thương để liên doanh, liên kết thành lập công ty cổ phần để thực hiện dự án tiếp nối việc liên doanh liên kết đã có từ trước của người tiền nhiệm là ông Nguyễn Bá Thi.

Khi Sabeco chậm triển khai dự án theo chỉ đạo của Bộ Công Thương, ông Tuất và các thành viên bộ phận quản lý vốn Nhà nước tại Sabeco còn bị Bộ Công Thương có Công văn yêu cầu rút kinh nghiệm, yêu cầu giải thể Sabeco Land và sớm tìm nhà đầu tư mới để thức hiện dự án. Việc liên doanh với doanh nghiệp nào cũng do lãnh đạo Bộ Công Thương quyết định. Sau khi Bộ Công Thương phê duyệt các nhà đầu tư mới để Sabeco liên doanh thành lập Sabeco Pearl. 

Trên cơ sở chỉ đạo của Bộ Công Thương, ông Phan Đăng Tuất ký văn bản đề nghị UBND TP HCM chấp thuận cho Sabeco Pearl được làm chủ đầu tư dự án. Sau đó, các sở, ngành TP HCM tham mưu cho lãnh đạo UBND thành phố cho thuê đất trái các quy định pháp luật. 

Theo cáo trạng, trách nhiệm chính trong sai phạm về hợp tác đầu tư, liên doanh, liên kết thành lập pháp nhân mới thực hiện dự án thuộc về lãnh đạo Bộ Công Thương, ông Phan Đăng Tuất thực hiện theo chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công Thương. Do đó, chưa đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông Phan Đăng Tuất. Vì vậy, Cơ quan điều tra kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý về Đảng và chính quyền đối với ông Phan Đăng Tuất là phù hợp.

Tại tòa, khi được luật sư hỏi, ông Tuất khẳng định việc ông làm đều có ý kiến của lãnh đạo Bộ Công thương. Theo lời trình bày của ông Tuất, suốt thời gian thực hiện dự án, ban đầu là một thứ trưởng khác, sau đó là Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa phụ trách. “Những phiên họp với BPQLVNN đều do Thứ trưởng Thoa chủ trì”, ông Tuất nói.

Ngoài ra, ông Tuất cũng khẳng định thời điểm đó bản thân không gặp Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng vì Bộ trưởng bận đàm phán các hiệp định thương mại. “Tôi không nhận được chỉ đạo của Bộ trưởng”, ông Tuất nói.

Tiếp lời, ông Tuất khai bản thân ông không trực tiếp tham gia thương thảo, không biết sự thay đổi giữa Hợp đồng số 01 và Hợp đồng nguyên tắc. Về việc Sabeco góp vốn vào Sabeco Pearl là 26%, ông Tuất nói con số này có tham khảo ý kiến của Bộ, hơn nữa, cổ đông nào chiếm 25% cổ phần trở lên thì có quyền chi phối nên họ mới chọn 26%. 

Ngoài ông Tuất, bà Phạm Thị Hồng Hạnh (nguyên TGĐ Sabeco), ông Lê Hồng Xanh (nguyên Phó TGĐ Sabeco)… cũng được Cơ quan điều tra kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý về Đảng và chính quyền. 

Theo cáo trạng, quá trình BPQLVNN họp để thống nhất các nội dung có liên quan đến các báo cáo, đề xuất của BPQLVNN đối với dự án 2-4-6 Hai Bà Trưng, các cá nhân trên tham gia họp, ký các biên bản họp và các Hợp đồng nguyên tắc, Hợp đồng hợp tác đầu tư… trên cơ sở văn bản chỉ đạo, phê duyệt chủ trương của lãnh đạo Bộ Công Thương.

Những người này không phụ trách lĩnh vực đầu tư bất động sản mà được phân công các nhiệm vụ chuyên trách, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại của Sabeco. Bản thân họ phải chấp hành ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công Thương nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự.

TÚ AN

Tin cùng chuyên mục

Biện pháp nào để hạn chế “uống thả ga” sau Covid-19 ?

Biện pháp nào để hạn chế “uống thả ga” sau Covid-19 ?

(PNTĐ) -Từ đầu năm đến nay, số người chết do tai nạn giao thông (TNGT) trên địa bàn thành phố Hà Nội chỉ giảm khoảng 1,07% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra. Đáng nói, nhiều vụ TNGT có hậu quả nghiêm trọng, do người vi phạm nồng độ cồn là cán bộ, người lao động làm việc trong cơ quan Nhà nước gây ra.