Nỗi nhớ gửi trùng khơi

Chia sẻ

Căn hộ chung cư tôi ghé thăm trước khi bước chân lên chuyến tàu công tác Trường Sa giống hệt như hàng trăm căn hộ ở khu đô thị. Nhà không có đàn ông, từ việc lớn trong gia đình như họ mạc, con cái, đến cái quạt, ti-vi bị hỏng, bắc ghế đóng đinh lên tường… cũng chỉ một tay người phụ nữ.

Chị Huyên trò chuyện cùng tôi, giọng miền Trung đầy thương khó: “Vất vả vậy chứ chị vui lắm em, ba mẹ con chuyển được vào cách đây mấy tháng, vậy là được gần anh rồi”. Tôi hỏi lại: “Hơn chục năm nay, mỗi năm anh một lần phép, thế bây giờ thì sao?”. Giọng chị chợt chùng xuống: “Bây giờ thì… cũng rứa! Có điều, chị và cháu ở đây, ít ra, những chuyến mọi người ra thăm đảo rồi mùa thay quân, chị được hỏi thăm anh qua người đi, người về”. Nhác thấy nét mặt đầy tâm trạng của tôi, chị Huyên rủ rỉ tâm tình, giải thích: “Nếu em có chồng ra đảo, em sẽ thấu cảm giác gần kề dù chẳng gặp được nhau, dù lòng vẫn thổn thức, nấc nghẹn khi nghe tiếng còi tàu chào cảng”. Những người vợ lính ở khu đô thị này tuổi đời đều còn rất trẻ. Vì thương con, ngóng chồng mà họ phải xa quê, có người dở dang công việc và hoài bão. “Có người vợ lính viết câu thơ thế này: Anh biết không em sợ tiếng còi tàu/ Bởi nhói lòng khi ta phải xa nhau/ Dẫu đến nay đã bao lần đưa tiễn/ Vậy mà sao nước mắt cứ chực trào. Mỗi lần anh Thịnh bước lên tàu, chị đứng ở cầu cảng và cảm giác đó lại dội lên”, vừa nói chị vừa cúi mặt, bàn tay gầy guộc tết nốt bên tóc đuôi sam cho cô con gái nhỏ.

Ảnh minh họaẢnh minh họa

“Cây hoa hồng bằng ốc ngọc lan này là của bố cháu gửi về tặng ba mẹ con đấy cô ạ. Bố kể, sau giờ huấn luyện, rất nhiều chú bộ đội trên đảo ra bờ cát tìm vỏ ốc, dây thép, ni-lông tặng bố cháu làm món quà này đấy. Nơi bố cháu công tác thì chẳng có bờ cát đâu, bố ở nhà giàn”, con trai lớn của chị Huyên đã học lớp bốn, líu lo khoe với tôi cây hoa hồng đặc biệt có ba khóm. Khóm lớn ba mươi tám bông hoa ứng với số tuổi của chị Huyên, còn lại hai khóm nhỏ, số hoa là số tuổi các con anh năm ấy. Tôi hứa với chị, chuyến công tác lần này, dù gặp được anh hay không, tôi vẫn tìm cách gửi món quà nhỏ của chị tới được tay anh, thông qua những chuyến tàu, những người đồng đội.

* * *

“Chị cứ an tâm, biển đảo bao la mà cũng gần gụi lắm! Chị nhìn can cà muối này đi, trên ấy chỉ đề mỗi “Dũng - TSĐ”, TSĐ là đảo Trường Sa Đông viết tắt đấy, mà ở đó chắc chắn nhiều người trùng tên, thế mà bằng cách nào đó, đồ vẫn tới tay người cần nhận”, đồng chí Chính trị viên tàu động viên khi gặp ánh mắt âu lo của tôi, sợ không chuyển được gói quà của chị Huyên cho anh Thịnh. Ảnh hưởng bão, tàu lắc lư suốt ngày, điện thoại hoàn toàn mất sóng, tôi cũng chẳng thể hình dung bằng cách nào để gặp được người lính nhà giàn giữa biển trời mênh mông. Qua hải trình sáu ngày, tàu ghé thăm được nhiều đảo. Đầu tiên là Song Tử Tây, điểm cuối là Trường Sa - điểm duy nhất của quần đảo tàu cập áp mạn cảng và diễn ra cảnh tàu chào đảo xúc động trong đêm khuya. Một vài đồng nghiệp của tôi đã chuyển thành công những gói quà gia đình bộ đội trong đất liền gửi ra, phấn chấn ra mặt.

Đêm trăng Trường Sa thiên về các cuộc tâm tình. Bộ đội trên tàu thả cước theo quán tính, dường như chẳng mấy ai cần chờ kết quả. Một ấm trà đặc “cắm tăm” được pha. “Đằng nào lát nữa chả đi ca, chúng tớ chẳng sợ gì mất ngủ!”, ai đó giọng hào sảng quay sang nói với nhóm nhà báo. Thế là những câu chuyện cứ tiếp nối câu chuyện, chuyện nhà, chuyện quê. Ban ngày anh em giữ ý, ngại ngần là thế, hỏi gì cũng không nói, thế mà bấy giờ lời cứ tuôn ra như là tự sự. Rồi đến lúc, bỗng chẳng ai nói gì mà tất cả cứ thấy ắp đầy giao cảm. Ở giữa không gian bao la, ta như được hòa nhập với biển trời, và biển trời cũng đưa ta xích lại từ bên trong.

* * *

Ngày cuối hành trình, đêm đến, mở điện thoại ra, thi thoảng chớp lên một hai vạch sóng, biết ngay tàu đang đi qua nhà giàn. Cả chục ngày lênh đênh trên biển, ghé thăm đảo nổi, đảo chìm, tưởng chừng muối mặn khơi xa đã ngấm sâu đến từng hơi thở ấy thế mà khi tới thềm lục địa phía Nam, lên nhà giàn, cảm xúc về biển cả lại rộng mở ra những chân trời miên man, thẳm biếc. Bình minh chầm chậm dâng lên, sừng sững trước mắt người ngôi nhà thép sơn vàng bừng sáng hệt đóa hoa hướng dương. Bỗng đâu, có cơn giông bất ngờ kéo đến dù phía xa kia, vẫn khung trời bình minh sóng sánh vàng như mật. Tàu bắt đầu rung lắc, sóng biển đánh thẳng vào chân nhà giàn, trắng cả một vùng. Cơn giông qua đi rất nhanh, tàu tiến gần nhà giàn hơn, càng tiến gần càng thấy đóa hoa thép kia vững vàng, sừng sững. Những trụ thép lớn kẻ dọc ngang mặt biển kiêu hãnh, hiên ngang mà không kém phần lãng mạn. Nó dấy lên trong tôi sự bất ngờ, ngỡ ngàng, không hiểu bằng cách nào và trải qua bao thăng trầm để chúng ta có thể xây dựng nên những cột mốc chủ quyền đầy thiêng liêng ấy. Anh Thịnh ở trên kia, trong hàng lính quân phục Hải quân nghiêm trang vẫy chào đoàn.

Ảnh minh họaẢnh minh họa

“Chị ngồi tạm ở đây nhé, không gian riêng của bộ đội chỉ thế này thôi”, người lính vừa kéo ghế, vừa tìm ấm pha trà. Tôi ngồi ở một góc phòng nhỏ thật nhỏ, hai bức tường cắt nhau bởi một góc tưởng như không thể nào nhọn hơn và hẹp hơn. Nhưng kìa, có nhành phong lan mầu tím hồng thật rực rỡ, mềm mại uốn một nét cong cạnh cây đàn ghi-ta, hình ảnh giản dị mà đầy xúc động. Anh dẫn tôi tham quan khắp nhà giàn.

“Giò phong lan chị vừa hỏi đến chỉ có thể là của cán bộ, chiến sĩ mang ra. Vì sao ư? Vì từ đất liền ra đây, quân tư trang nặng trĩu trên vai, bộ đội chỉ có thể gói ghém một nhành lan nhỏ. Ra tới đây, phải nâng niu, chăm chút kỹ lắm thì nhành cây cấy trên khúc gỗ mục kia mới có thể sống sót, đơm bông. Khí hậu khắc nghiệt nên một nhành lan đó mãi không sinh sôi thêm. Hy hữu, vẫn có những nhà giàn có chậu phong lan thật to, nhiều nhánh hoa rực rỡ. Đó là món quà của Hiệp hội hoa Đà Lạt tặng bộ đội”. Anh Thịnh nói, tôi lắng nghe, giọng như có sóng, có nước, có nỗi bâng khuâng muốn ngỏ với đất liền.

Quê anh ở Thái Bình, ngay gần biển, suốt ngày đêm vẫn vẳng bên tai tiếng dạt dào. Thế mà, bố anh lại chưa một lần được ngắm biển. Ông bị mù, đôi mắt nhắm hay mở cũng chỉ toàn bóng tối. Anh đi bộ đội, làm lính nhà giàn, bố tự hào lắm. Mỗi lần con trai về phép, ông cứ hỏi: “Biển ngoài ấy có đẹp như biển quê mình? Ồ, chắc là rộng lắm, xanh lắm, mà sóng cũng dữ lắm nhỉ?”. Anh trả lời, biển Tổ quốc ta nơi nào cũng đẹp. Chị Huyên người miền Trung, họ tình cờ quen biết, yêu xa mấy năm trời. Từ lúc yêu tới khi nên vợ nên chồng chỉ gặp nhau vài bận.

* * *

Vài giờ đồng hồ thăm nhà giàn trôi qua rất nhanh. Một số thành viên có kinh nghiệm trong đoàn công tác khẳng định, lên được thế này là rất may mắn bởi nếu gặp thời tiết xấu hoặc thủy triều bất lợi thì chẳng thể lên nổi chứ đừng nói chuyện thong thả, hàn huyên bên ấm trà. Tới lúc phải chào anh Thịnh, tôi hỏi anh có gửi gì về không, anh gãi mái đầu lướt mướt mồ hôi: “Chị đã có lòng chia sẻ thì xin chị chờ bộ đội chút nhé”. Quà anh đã đóng sẵn rồi, cũng một gói nhỏ nhẹ tênh, kích cỡ hệt của chị Huyên gửi ra. Vừa tiễn tôi xuống từng bậc nhà giàn, anh vừa kể, nhiều năm qua, vợ chồng anh trao nhau những chiếc áo thấm hơi người. Hơi áo đất liền có mùi bếp núc, xà-bông, bỉm sữa... hơi áo khơi xa mặn mòi muối biển, sóng lừng, giông bão... “Chị có biết, mùi gì là rõ rệt nhất không? Mùi của những đêm dài thao thức! Hơi người khi phải sống xa nhau mà luôn nghĩ về nhau cứ nồng nàn, cuồn cuộn, thương lắm!”. Lời nói của anh Thịnh găm mãi trong đầu óc tôi bằng niềm xúc động đến ám ảnh.

Sau cuộc gặp gỡ với nhà giàn là một cơn mưa biển. Tàu cất ba hồi còi thao thiết, âm vang. Mưa nhẹ nhõm, không mấy ảnh hưởng tới tầm nhìn. Tôi vẫn đứng trên mũi tàu, qua ống kính tê-lê, tôi thấy anh Thịnh vẫn đứng nguyên một điểm, vẫn giơ tay vẫy chào. Chắc chắn, anh không thể nhìn thấy tôi, càng không biết tôi nhìn được anh khá rõ ràng. Một vài thủy thủ đứng bên tôi, họ cũng nhìn mãi về hướng nhà giàn, dáng hình như đóa hoa hướng dương sắp bước vào giấc mộng lóng lánh trăng sao đúng độ đêm rằm. Chỉ ngày mai thôi, nơi cầu cảng, tôi sẽ gặp ba mẹ con chị Huyên bên hàng trăm con người khác cũng thấp thỏm đợi chờ, mong ngóng. Họ chờ những chuyến tàu, chờ những con người xa lạ chuyển giúp cho mình chút hơi ấm tự trùng khơi.

Ghi chép của THỤY PHƯƠNG

Tin cùng chuyên mục

Giữ hồn truyền thống trong nhịp sống hiện đại

Giữ hồn truyền thống trong nhịp sống hiện đại

(PNTĐ) - Với hơn một nghìn làng có nghề, Thủ đô đang đứng trước yêu cầu vừa bảo tồn giá trị truyền thống, vừa đổi mới phương thức sản xuất để phát triển bền vững. Những nỗ lực trong quy hoạch, xây dựng thương hiệu, bảo vệ môi trường và phát triển con người đang từng bước tạo sinh khí mới cho các làng nghề Hà Nội.
Phụ nữ kiến tạo sức sống mới cho làng nghề

Phụ nữ kiến tạo sức sống mới cho làng nghề

(PNTĐ) - Trong tiến trình phát triển các làng nghề truyền thống của Hà Nội, phụ nữ ngày càng khẳng định vai trò chủ động và sáng tạo. Không chỉ gìn giữ những giá trị nghề cha ông để lại, họ còn mạnh dạn đổi mới tư duy sản xuất, tham gia quản lý, kinh doanh, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường. Chính sự năng động, linh hoạt và bền bỉ của phụ nữ đang góp phần kiến tạo sức sống mới cho làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập và phát triển bền vững.
Quyết định cuối cùng

Quyết định cuối cùng

(PNTĐ) - Mai mở mắt khi những tia nắng rực rỡ lọt qua khe cửa, chiếu vào mắt cô. Mai cứ nghĩ mình chỉ vừa mới ngủ thôi, vậy mà khi hé mắt nhìn lên đồng hồ, cô giật mình vì đã 8 giờ sáng. Lâu lắm rồi, Mai mới có một giấc ngủ dài và yên bình như vậy.
Lo mất đất không cho mẹ... tái giá

Lo mất đất không cho mẹ... tái giá

(PNTĐ) - Đã hơn một tháng nay, mẹ con Bình phải căng lều bạt ăn ngủ ngay trước sân ngôi nhà ba tầng của bà Thuận. Dù có đêm mưa tầm tã, gió lạnh thấu buốt nhưng người mẹ già vẫn kiên quyết không mở cửa cho con gái ruột và đứa cháu ngoại lên 8 tuổi vào nhà. Về phía Bình vẫn chịu khổ bám trụ để ngăn cản mẹ bán ngôi nhà bà đang sở hữu.