Chuyến đi xuyên Việt theo đoàn quân giải phóng miền Nam
PNTĐ-Tháng 4/1975, NXB Phụ nữ chuẩn bị chuyến đi “xuyên Việt”. Tin giải phóng Huế, Thừa Thiên làm chúng tôi háo hức. Tôi chuẩn bị hành trang nhẹ nhàng để có thể trèo đèo lội suối cùng bộ đội.
Chiếc ô tô lăn bánh nhanh trên đường nhựa. Trời mới vào tháng 4 Âm lịch mà đã nắng gắt, cái nắng nóng miền Trung như thiêu như đốt. Ô tô phải dừng lại mấy lần lấy nước. Sắp đến Đà Nẵng, chúng tôi nghe tin Đà Nẵng vừa giải phóng. Thành phố có nhiều cảnh lạ mắt thu hút chúng tôi. Những cô gái chạy xe Honda nhộn nhịp trên đường phố, áo dài nhiều màu sắc bay trong gió. Các dãy phố đầy ắp hàng tiêu dùng…
Một chiếc commăngca dừng trước mặt chúng tôi. Đoàn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Hồ Phương, Vũ Tú Nam, Ý Nhi, Thanh Hương… cùng bước xuống. Anh Nguyên Ngọc mừng rỡ:
- Xe bọn mình sắp hết xăng rồi. Các chị ủng hộ bọn mình với!
- Sẵn sàng thôi, bên này dự trữ khá nhiều xăng.
- Sao chúng ta không nhập đoàn đi cho vui nhỉ?
Phòng làm việc của tướng ngụy, Ngô Quang Chưởng, nguyên chỉ huy thành phố Đà Nẵng, gần như còn nguyên vẹn khi ông ta bỏ chạy. Trên tường còn treo tấm bản đồ quân sự với nhiều mũi tên đỏ vẽ các hướng tiến công dày đặc của quân ta. Nghe nói trên bàn làm việc còn có bát phở chưa kịp ăn hết – viên tướng đã bỏ lại khi nghe tin bộ đội ta ào ạt tiến vào.
Tôi cùng nhà thơ Cẩm Lai ra thăm bãi biển Hòa Hải. Đập vào mắt chúng tôi cảnh tan rã, rối loạn của binh lính chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vừa rút chạy. Một chiếc xe tăng đang chúc đầu xuống biển. Trên bờ biển la liệt quần áo rằn ri, ủng, giày, kim tiêm, phao cứu hộ, xắc đeo vai. Sổ sách, giấy tờ trắng xóa cả trên bờ, dưới nước. Ghế vải, lều vải, cái vẫn còn nguyên, cái đã đổ sụp…
![]() |
Trên khán đài buổi mít tinh đầu tiên 15/5/1975, mừng ngày Giải phóng miền Nam tại Sài Gòn. Từ trái sang: tác giả (thứ ba), nhà thơ Cẩm Lai (thứ tư) |
Buổi tối, chúng tôi ngủ ở khu bộ đội đóng quân. Dưới ánh sáng những ngọn đèn dầu nhỏ như hạt đỗ, các chiến sĩ giải phóng quân ngồi viết quyết tâm thư gửi lên cấp trên và thư gửi về gia đình. Mục tiêu sắp tới của các anh là giải phóng Vũng Tàu, Hàm Tân, trước khi tiến vào Sài Gòn. Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, tôi thấy xung quanh vắng lặng. Đơn vị bộ đội đã lên đường từ lúc nào mà chúng tôi không hay.
Từ Đà Nẵng vào Nha Trang, tôi, Ý Nhi và Minh Nguyệt đi chiếc xe Jeep xin được ở Ủy ban quân quản Đà Nẵng; đoàn tạp chí Văn nghệ Quân đội kiếm được một chiếc xe Ford. Chiếc xe này đang chạy nhanh bỗng xoay ngang, suýt lao qua thành cầu. Nguyễn Khải, Hồ Phương lom khom chui ra giữa bụi đường mịt mù. Hóa ra, lái xe phóng nhanh, phanh gấp, cả đoàn được một phen hú vía.
Quân địch rút chạy nhanh. Xe chúng tôi đi qua các thị trấn. Người mua, người bán nhộn nhịp. Những cây xoài, cây dừa trĩu quả dọc đường. Quang cảnh làng mạc, phố xá thật thanh bình, không có vẻ gì chiến tranh vừa tràn qua đây. Ý Nhi và Minh Nguyệt say xe, dựa vào vai tôi ngủ thiếp đi.
Ngày 1/5, chúng tôi đến Quy Nhơn thì nhận được tin Sài Gòn giải phóng. Tất cả vội vàng lên xe đi tiếp, không nghĩ gì đến ăn uống. Cả đoàn nhịn ăn từ sáng nhưng không ai thấy đói. Giữa trưa xe đến một chợ gần biển. Những rổ cá tươi trông rất ngon mắt. Xe dừng lại nghỉ, tôi nói với Minh Nguyệt:
- Em vào xóm mua gạo đi. Chị muốn nấu một bữa canh chua để mọi người ăn tươi, cho bõ buổi nhịn sáng nay.
Trong khi Minh Nguyệt đi mượn nồi nấu cơm, tôi ra chợ mua cá, dứa, hành… Những con cá xanh còn tươi rói, giá rẻ bất ngờ.
Cả đoàn đi đường mệt quá lăn ra ngủ. Tỉnh dậy thấy có cơm, canh cá sẵn sàng, tất cả đều ngạc nhiên:
- Ôi! Có bàn tay tiên nào đây?
- Cơm canh ở đâu thế này?
Tôi và Minh Nguyệt chỉ cười. Khi đi, mỗi người chỉ được mang một ít tiền nên chi tiêu rất tằn tiện. Bữa cơm hôm ấy được coi là thịnh soạn.
Đến Nha Trang. Biển xanh màu ngọc bích, càng đẹp hơn dưới ánh nắng chiều. Chúng tôi vừa muốn dừng lại ngắm cảnh vừa muốn đi nhanh vì Sài Gòn đã giải phóng. Từng đoàn xe tải và xe khách lớn chở lính ngụy tan rã về quê. Họ reo hò sung sướng vì thoát bom đạn chiến trường. Trưa 1/5, chúng tôi nghỉ lại ở vùng suối Vĩnh Hảo nổi tiếng. Đồng bào cho uống nước suối Vĩnh Hảo không mất tiền.
Từ Bình Thuận, chúng tôi đi ngay sau bộ đội hành quân. Dọc đường, một mùi khét lẹt bốc lên. Xe vẫn phóng thẳng trong đêm tối. Lúc chiều đi trên đèo Cả sát vực sâu, cậu lái xe tỉnh bơ: “Năm ngoái, ở đây có một chiếc xe đã lăn xuống vực chết mấy chục người”. Tôi cũng rờn rợn. Nhưng bây giờ lại không thấy sợ vì đã tiến sát Sài Gòn. Thỉnh thoảng, một con thú rừng nhảy vọt ra trước ánh đèn pha.
Sáng mồng 2/5. Trên đường vào Sài Gòn, chúng tôi gặp rất nhiều xe tăng, ô tô chở bộ đội hành quân. Những anh lính trẻ vừa qua một trận thử thách lịch sử. Trông họ thật rắn rỏi, chững chạc. Sau những trận mưa đầu mùa ở miền Nam, đường nhão nhoét. Những chiếc xe lăn bánh khó khăn. Chiều hôm ấy, chúng tôi đến Sài Gòn. Ô tô đưa chúng tôi về trụ sở Hội Văn nghệ giải phóng số nhà 193, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Tôi và chị Cẩm Lai cùng reo lên:
- Ôi! Không ngờ lại được gặp Trần Thị Thắng và Hà Phương ở đây!
Các cô vốn là sinh viên Tổng hợp văn đi B trước đây mấy năm. Chúng tôi chuyện trò ríu rít. Có bao nhiêu chuyện muốn kể, muốn hỏi nhưng mọi người đều tranh thủ thời gian để làm số đặc san Văn Nghệ về ngày lễ chiến thắng. Mấy ngày đầu, chúng tôi ăn toàn “mì tôm ăn liền”. Ở Bắc vào, mọi người đều thấy ngon và tiện lợi.
Một số háo hức rủ nhau đi thăm Dinh Độc Lập. Tôi và chị Cẩm Lai bảo nhau:
- Làm thế nào chuyến này phải đến được nơi tận cùng đất nước, Mũi Cà Mau.
Các anh Nguyễn Chí Trung, Nguyên Ngọc, Hồ Phương thấy vậy, rủ ngay:
- Nếu vậy, chúng ta cùng đi, chúng tôi cũng đang muốn đến đó.
Ô tô chỉ đi được đến Minh Hải. Từ Minh Hải đến Năm Căn phải đi tàu thủy. Từ Năm Căn, chúng tôi thuê vỏ lãi (thuyền nhỏ) gắn máy. Mỗi chiếc chở ba, bốn người, chạy trên những dòng kênh giữa rừng cây đước và cây mắm.
Ngồi trên thuyền vỏ lãi, tôi mê mải ngắm nhìn những cây đước cao sừng sững, rễ tỏa ra từng bó lớn, ôm chặt đất phù sa.
Mấy anh ở Ủy ban huyện đưa chúng tôi đến thăm nhà thờ Bác Hồ trên đất Mũi, căn nhà dựng bằng lá dừa nước giữa rừng cây. Sống giữa vòng vây của địch, bà con vẫn hàng ngày đến thắp hương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Căn nhà nhỏ nhưng uy nghi và trang nghiêm.
Sau đó, chúng tôi tiếp tục đi vỏ lãi trên những dòng kênh. Cảnh sông nước ở đây rất lạ. Hai bên bờ kênh, hàng cây đước, cây mắm như những hàng người khổng lồ kéo dài vô tận… Vỏ lãi lướt nhanh để lại phía sau những vệt nước dài như đuôi sao chổi. Tiếng máy nổ phá tan cảnh tĩnh mịch của rừng cây. Chị cán bộ Hội phụ nữ xóm Mũi xếp chúng tôi ngủ đêm ở mấy căn nhà sàn trong xóm. Trước cửa nhiều nhà treo lủng lẳng những gói bánh tét, gói bỏng, những nải chuối bán cho khách qua đường. Khi cần, có thể biếu không. Trong nhà, những đống tôm khô chất đầy gần sát nóc, giống như ở miền Bắc bà con nông dân hay chất lạc, đỗ.
Vùng này rất nhiều muỗi. Đưa tay ra ngoài màn có thể vơ được từng nắm muỗi. Mấy anh bên tạp chí Văn nghệ Quân đội không ngủ được, trằn trọc suốt đêm vì ngứa. Cách nhau một vách lá dừa mà sàn chúng tôi nằm vẫn rung lên.
Chúng tôi rúc rích cười. Lúc chiều, các anh khoái chí ra tắm bãi nước mặn Cà Mau, bảo “tắm cho biết nước biển nơi tận cùng Tổ quốc như thế nào”, ai dè “gặp hạn”.
Hôm sau chị chủ nhà đãi chúng tôi một bữa cá biển luộc ăn với rau đắng rất lạ miệng.
Tôi ra đứng ở bãi biển xóm Mũi. Đảo Hòn Khoai sừng sững trước mặt. Chợt nhìn thấy mấy em gái đi qua, tôi hỏi:
- Này em, làm cách nào ra được đảo Hòn Khoai.
- Sáng mai, có thuyền ra đảo đấy. Nếu muốn các chị có thể hỏi đi nhờ.
Sáng sớm hôm sau, tôi và Cẩm Lai đi nhờ thuyền của dân ra đảo chặt chuối về nuôi lợn. Lúc đầu, hai chị em còn ngồi trên mạn thuyền hóng mát. Nhưng một lúc sau, sóng biển làm chúng tôi nôn nao, phải xuống khoang nằm, tay không rời lọ dầu gió. Chỉ khi nghe tiếng gọi “Đến đảo rồi”, tôi và Cẩm Lai mới líu ríu dắt nhau khỏi thuyền.
Cảnh đẹp bất ngờ. Cây đại thụ xen lẫn bãi cỏ xanh rờn, bụi cây lúp xúp. Rừng cây không âm u, rất thoáng đãng. Không khí mát mẻ, thoang thoảng hương thơm hoa rừng. Cây cối xanh tươi, chim trời ríu rít, từng chùm hoa phong lan nhiều màu, những bắp hoa chuối đỏ rực rỡ… Tôi và Cẩm Lai ngâm chân dưới dòng suối trong mát chảy từ trên cao xuống. Một người dân nói với tôi:
- Mỗi khi trong đất liền bị hạn, dòng suối này cung cấp nước cho vùng đất Mũi đấy.
Mũi Cà Mau đang giữa mùa hè nóng nực. Nhưng bước chân lên đảo Hòn Khoai, tôi cảm thấy mát như Tam Đảo hay Đà Lạt. Nhìn về đất liền, Mũi Cà Mau trông như một lưỡi gươm dài đâm thẳng ra đại dương. Cứ bốn năm, đất Mũi dài thêm một kilômét ra biển, nhờ hàng cây mắm sinh sôi. Quả mắm rơi xuống đất phù sa, nảy thành cây mới, mọc xen với đước. Bữa cơm hôm ấy có cá biển, rau rừng, lại có thêm món thịt chồn hương, các đồng chí biên phòng đem cho.
Về Sài Gòn, chúng tôi có buổi họp mặt với chị Nguyễn Thị Định, Phó Tư lệnh quân giải phóng miền Nam. Tôi và Cẩm Lai được đứng trên lễ đài dự buổi lễ mừng chiến thắng vào ngày 15/5 trước vườn hoa Thống Nhất. Bác Tôn Đức Thắng cũng về dự buổi lễ. Vườn hoa đông nghịt người. Một bức ảnh lớn vẽ Bác Hồ trước Dinh Độc Lập. Các họa sĩ đã thức trắng mấy đêm để vẽ cho kịp bức ảnh ấy. Bài hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” của nhạc sĩ Phạm Tuyên vang lên suốt ngày…
Nhà văn Nguyệt Tú














