Ngày Dân số thế giới 11/7:

Người cao tuổi đứng trước nguy cơ khó khăn về an sinh xã hội

KHÁNH AN
Chia sẻ

(PNTĐ) - Việt Nam là một trong các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Đến năm 2036, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số già, chuyển từ xã hội “già hóa” sang xã hội “già”. Sự gia tăng cả về quy mô và tỷ lệ người cao tuổi trong cơ cấu dân số đòi hỏi phải có sự quan tâm nhiều hơn đến an sinh xã hội cho người cao tuổi để không tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Thách thức trong bối cảnh  già hóa dân số

Già hóa dân số đặt ra nhiều thách thức về mặt kinh tế, xã hội đối với Việt Nam. Việc già hóa dân số nhanh chóng sẽ dẫn tới tình trạng thiếu lao động trong tương lai, cùng với đó là nhu cầu an sinh xã hội ngày càng tăng cao ở nhóm người cao tuổi. Tuy nhiên, trong bối cảnh tiềm lực để đáp áp ứng các nhu cầu an sinh của người cao tuổi đang ở mức “thiếu” và “yếu” như hiện nay, thách thức đó lại càng lớn.

Khác với các nước, người cao tuổi tại Việt Nam trải qua thời tuổi trẻ trong chiến tranh. Do đó, đa số họ không có sự tích lũy cho tuổi già. Báo cáo nghiên cứu thị trường các sản phẩm chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam của Quỹ Dân số Liên hợp quốc cho thấy, có tới 90% người cao tuổi không có tích lũy, chỉ có 10% người cao tuổi có tiền tiết kiệm. Hầu hết người cao tuổi sử dụng tiền tiết kiệm để chi trả chi phí chữa bệnh, 10% chi cho con cháu và chỉ có 8,5% chi cho bản thân. 

Với đặc điểm văn hóa gia đình, người cao tuổi Việt Nam không chỉ lo cho cuộc sống bản thân mà họ còn phải lo cho con cháu. Do đó, nhiều người dù tuổi cao sức yếu nhưng vẫn giữ vai trò trụ cột gia đình, đảm nhiệm lo kinh tế. Đây là những khó khăn mà người cao tuổi Việt Nam đang phải đối diện ở hiện tại khiến chất lượng cuộc sống của họ không được nâng cao, thậm chí bị giảm sút.

Người cao tuổi đứng trước nguy cơ khó khăn về an sinh xã hội - ảnh 1
Truyền thông chính sách Bảo hiểm xã hội tới người lao động tự do   
Ảnh minh họa
 

Cùng với đó, nhu cầu chăm sóc sức khỏe và chăm sóc xã hội tăng lên theo độ tuổi nên cần phải nỗ lực tăng thời gian sống khỏe mạnh. Ngoài ra, nguy cơ khuyết tật cũng tăng lên theo độ tuổi, vì vậy đòi hỏi sự quan tâm chăm sóc nhiều hơn. Ở Việt Nam, người cao tuổi thường nhận được sự chăm sóc từ các thành viên trong gia đình, nhưng hỗ trợ từ phía gia đình ngày càng khó khăn, đặc biệt là ở khu vực thành thị. 

Cùng với áp lực về tài chính, người cao tuổi đang phải đối mặt với những vấn đề sức khỏe, bệnh tật kép. Thống kê cho thấy, tuổi thọ của người Việt Nam đã tăng cao (mức trung bình là 75,6 tuổi), đứng thứ hai trong khu vực và đứng thứ 56 trên thế giới. Tuy nhiên, trung bình một người cao tuổi Việt Nam mắc 3 bệnh với khoảng 95% người cao tuổi có bệnh.

Sẵn sàng sống độc lập khi về già: Còn gian nan

Từ những vấn đề mà người cao tuổi Việt Nam đang phải đối diện ở hiện tại, đòi hỏi chúng ta cần phải có những chính sách nhanh chóng, kịp thời để đón đầu và thích ứng cũng như sẵn sàng khi bước vào xã hội già. Thế hệ trẻ hôm nay phải có nhận thức và thay đổi hành vi chuẩn bị cho cuộc sống độc lập về già của mình. 

Khảo sát về vấn đề này, mới đây, Viện Khoa học Lao động và xã hội và Viện Nghiên cứu Y - Xã hội học phối hợp thực hiện nghiên cứu “Mức độ sẵn sàng cho cuộc sống độc lập khi về già”. Nghiên cứu cung cấp số liệu mang tính đại diện quốc gia cho nhóm dân số trong độ tuổi 30-44 ở Việt Nam về việc họ chuẩn bị cho tuổi già độc lập như thế nào, với trên 2.019 đối tượng từ 30 đến đủ 44 tuổi, tại 6 tỉnh, thành phố thuộc các vùng kinh tế đại diện phạm vi quốc gia. Nội dung các chỉ số của nghiên cứu “Mức độ sẵn sàng cho cuộc sống độc lập khi về già” được xoay quanh 4 chủ đề: Tài chính; sự gắn kết với Gia đình và Xã hội; sự chuẩn bị về Sức khỏe và Tâm lý; đánh giá về Triển vọng Cuộc sống Hưu trí và Cuộc sống khi về già.

Chia sẻ tại hội thảo kỹ thuật tham vấn về kết quả của nghiên cứu, PGS.TS. Giang Thanh Long - giảng viên cao cấp đại học Kinh tế quốc dân, chuyên gia nghiên cứu cao cấp Viện Nghiên cứu Y - Xã hội học, đại diện nhóm nghiên cứu cho biết: Việc lựa chọn nhóm tuổi từ 30-44 do đây là nhóm tuổi quan trọng.

Người cao tuổi đứng trước nguy cơ khó khăn về an sinh xã hội - ảnh 2
Hiện nay, nhiều người cao tuổi Việt Nam vẫn phải vất vả mưu sinh vì không có lương hưu, tích lũy cho tuổi già Ảnh minh họa
 

Đây không chỉ là nhóm độ tuổi đang tăng về số lượng và tỷ lệ trong tổng dân số, mà còn là nhóm dân số có thu nhập bình quân đầu người cao nhất. Theo dự kiến vào năm 2025, nhóm tuổi này sẽ đạt mức cao nhất với khoảng 24,02% tổng dân số. Đáng quan tâm hơn cả, nhóm tuổi này sẽ bước sang tuổi “về già” trong khoảng 15 năm nữa. Đây là thời kỳ mà “dân số vàng” bước sang thời kỳ “dân số già” và gánh nặng an sinh xã hội sẽ cao hơn. 

Theo PGS.TS Giang Thanh Long, khảo sát cho thấy nguồn tài chính để về hưu phần lớn đến từ các khoản lương hưu hoặc các khoản tiết kiệm. Thế nhưng, tỷ lệ dự kiến có nguồn thu nhập từ lương hưu còn chưa cao, chỉ chiếm 32,43%. Điều đáng nói, tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) và kỳ vọng về thu nhập đủ sống từ hưu trí còn khá thấp.

Có gần 5% người tham gia khảo sát chia sẻ rằng “không biết hoặc sẽ không có nguồn thu nhập nào khi về già”.

Kể từ khi đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp và kéo dài, vấn đề chuẩn bị cho tài chính tuổi già qua kênh bảo hiểm xã hội đang đối diện với nhiều nguy cơ khi mà thời gian gần đây người lao động ồ ạt rút bảo hiểm xã hội hưởng một lần để trang trải cuộc sống qua giai đoạn khó khăn.

Điều này đồng nghĩa với việc một số lượng người cao tuổi trong tương lai sẽ mất đi nguồn tài chính đảm bảo cho cuộc sống khi về già. Thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho thấy tuổi của lao động rút BHXH một lần ngày càng trẻ, dưới 40, trong đó phần lớn từ 20-30 tuổi. Năm 2021, tổng số lao động rút BHXH một lần tăng 13% so với năm trước đó. Riêng 4 tháng đầu năm 2022 đã có 302.000 lao động rút BHXH một lần.

Theo bà Đinh Thị Thu Hiền, Phó ban Thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội Việt Nam, khi lao động rút BHXH một lần sẽ mất đi nhiều quyền lợi bởi toàn bộ thời gian tham gia BHXH trước đó không được bảo lưu; không được hưởng chế độ ốm đau, hưu trí; khám chữa bệnh bằng BHYT miễn phí; quyền lợi cho thân nhân như chế độ tử tuất và những quyền lợi đi kèm…
Vấn đề tiết kiệm, tích lũy được xem là giải pháp đảm bảo nguồn tài chính cho tuổi già.

Dẫn chứng từ kinh nghiệm của Nhật Bản trong ứng phó với vấn đề già hóa dân số, PGS.TS Giang Thanh Long cho biết: Vào thời kỳ bùng nổ dân số của Nhật Bản (dân số vàng), tỷ lệ tiết kiệm của người dân lên đến 53%. Con số này được đầu tư lại vào nền kinh tế để tạo thu nhập cho tương lai. Còn ở Việt Nam, tỷ lệ tiết kiệm ở thời kỳ “dân số vàng” hiện nay chỉ khoảng 28%, đây là tỷ lệ khá thấp.

Một vấn đề thách thức khác là trên thực tế, nguồn lương hưu mà những lao động còn trẻ tích lũy qua kênh BHXH vẫn không thật sự khả quan để đảm bảo tốt cho cuộc sống già trong tương lai. Nhiều người trẻ dù đã có ý thức cho việc “chuẩn bị già khi còn trẻ”, thế nhưng mức lương đóng BHXH hiện tại của họ rất thấp.

Do vậy, mức lương hưu mà họ được nhận sau này cũng sẽ thấp theo. Đây cũng là lý do mà nhiều lao động đã quyết định rút BHXH một lần để trang trải cuộc sống, hoặc đầu tư sang hình thức làm ăn tích lũy khác. Nhiều người tính toán với mức lương đóng BHXH thấp không đủ sống như hiện nay, thì số lương hưu mà họ nhận được trong tương lai ở mức “chuẩn nghèo”. Đây là thực trạng đáng báo động đối với chất lượng cuộc sống của người cao tuổi khi bước vào xã hội già. 

Già hóa dân số chắc chắn là một lĩnh vực cần sự quan tâm sâu sát của các nhà hoạch định chính sách và ra quyết định dựa trên phương pháp tiếp cận theo vòng đời. Mặc dù già hóa dân số đặt ra thách thức cho xã hội và nền kinh tế, song một bộ chính sách phù hợp sẽ cho phép cá nhân, gia đình và xã hội giải quyết những thách thức này và gặt hái những lợi ích mà nó mang lại. Do đó, cần hỗ trợ thanh niên phát triển, lên kế hoạch và chuẩn bị cho tuổi già để có thể giải quyết vấn đề già hóa dân số một cách chặt chẽ và toàn diện. 

Để chủ động thích ứng với tình hình già hóa dân số, theo bà Phạm Thị Hải Chuyền, Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam, Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam, đối với chính sách an sinh cho người cao tuổi giai đoạn 2021-2030, trước hết cần chủ động nghiên cứu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và cụ thể hóa chủ trương thành chương trình cụ thể để triển khai phù hợp với điều kiện thực tế. Cần truyền thông nêu rõ việc mọi người dân phải có trách nhiệm tích lũy khi về già.
Tăng cường hơn nữa công tác truyền thông về già hóa dân số của nước ta, nêu rõ những vấn đề đặt ra khi chúng ta bước vào giai đoạn dân số già như: Nguồn lực dành cho thực hiện chính sách an sinh xã hội, nguồn nhân lực cho nền kinh tế… Từ đó, nâng cao trách nhiệm của xã hội, của mỗi tổ chức, cá nhân và các cơ quan hoạch định chính sách.
 

Ý kiến bạn đọc

Tin cùng chuyên mục

Kỳ 2: Không để lãng phí nguồn lực công sản

Kỳ 2: Không để lãng phí nguồn lực công sản

(PNTĐ) -GS.TS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng: “Ở Việt Nam, đất đai thuộc khu vực quyền tài sản công thường không được các cơ quan quản lý đất đai đặt thành trọng tâm. Vì vậy mà nguồn lực công sản bị rơi vào hoàn cảnh dễ dàng bị tham nhũng, lãng phí. Để khắc phục tình trạng quản lý lỏng lẻo này, cần bổ sung vào Luật Đất đai (sửa đổi) quy định về đất đai thuộc khu vực quyền tài sản công và đất đai thuộc khu vực quyền tài sản tư và gắn với nó là các quy tắc quản lý phù hợp”.