Phụ nữ trong chiến dịch Điện Biên Phủ
PNTĐ-Để đảm bảo cho 5 đại đoàn (5 vạn người) chiến đấu ở Điện Biên Phủ (ĐBP), ta đã huy động 26 vạn dân công và 22 vạn thanh niên xung phong phục vụ chiến đấu...
Hai lực lượng này tuyệt đại đa số là nữ. Chị em từ các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, trung du Bắc bộ và cả vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ cũng trốn ra đi, các tỉnh Tây Bắc càng nhiều người nô nức tham gia theo tiếng gọi cứu nước.
Vất vả, khó nhọc, thiếu thốn đủ thứ, nhưng vui lắm, vui vì được thoát li gia đình, vui vì được sống trong một tập thể, ai cũng háo hức đóng góp sức mình cho tiền tuyến đánh thắng giặc. Vui nhất là lúc bộ đội gặp dân công.
Cá gặp nước cũng không vui bằng bộ đội – gồm toàn “đực rựa”, gặp dân công – tuyệt đa số là nữ. Cái sức hút âm dương kì lạ lắm. Vẫn đi theo đội hình, nhưng mắt thì dán vào nhau, miệng cười, mắt cười, và cứ rộn cả người lên mới lạ. Gặp người quen thì thế nào cũng xin phép chỉ huy để nhào vào nhau, nắm vai nhau mà rung mà lắc (thuở ấy chưa có lệ bắt tay).
Từ những thanh nữ thẹn thùng, bẽn lẽn, nhút nhát, chỉ mấy tháng sống tập thể, với bao nhiêu cuộc gặp gỡ, đi bao nhiêu đường đất, gặp bao nhiêu sự cố, phải dựa vào nhau, vào tập thể mới hoàn thành nhiệm vụ, đã trở nên bạo dạn, bạo mắt, bạo mồm, bạo cả tay chưa chừng. Thế là lập tức hát đối đáp theo điệu hò lơ phổ biến bấy giờ.
Bên bộ đội: “Bộ đội mà gặp dân công” (“ai đi hò lờ”) “như cá gặp nước” (“ai đi hò lờ”) “như rồng gặp mây” ( “hò lờ ới lơ tiếng ai đi hò lờ”).
Bên dân công: “Hỡi anh lính trẻ kia ơi” (“ai đi hò lờ”), “em thương anh lắm” (“ai đi hò lờ”) “sang chơi bên này” (“hò lờ ới lơ tiếng ai đi hò lờ”).
- Chưa sang được, thắng lợi về sẽ gặp nhau nhé!
- “Anh đi đánh trận Điện Biên” (“ai đi hò lờ”), “anh mà không bận” (tất cả: “ai đi hò lờ”) “anh mà không bận”… (“ai đi hò lờ”) “em”… “em”… “nghiền anh ngay” (“hò lờ ới lơ tiếng ai đi hò lờ”).
- Thật nhớ, giữ lời nhớ, không được chạy đâu nhớ!
Các đoàn dân công người dân tộc Tày, Nùng thì gánh; Thái, H’Mông thì gùi hàng, nhưng đành chịu vì không hiểu tiếng nhau, thế là tha hồ nhìn ngắm những bộ váy áo hoa văn sặc sỡ.
Dân công hỏa tuyến lúc vào mặt trận thì vác đạn, gánh gạo, lúc ra thì khiêng cáng thương binh hoặc được huy động phục vụ trong các trạm cứu thương, trọng thương. Sáu mươi năm trước, mùa mưa đến sớm. Đường đất bỗng nhão nhoẹt, trơn trượt. Cứ hai chị võng một thương binh, phải thêm hai cái gậy chống cho chắc chân. Không thấy tiếng rên của thương binh, người trước hỏi người sau, mày xem anh ấy còn sống không? Sao không nghe thấy rên nữa.
Lựa kiếm chỗ để ghếch đòn khiêng lên, sờ lên ngực thương binh, đã không còn thấy tim đập… Nhiều lần, bị máy bay địch bắn, hoặc dính đạn pháo địch, thương binh thành tử sĩ, dân công cũng hy sinh theo. Võng thương binh đi hàng chục cây số, vai đau ê ẩm. Chị em quen gồng gánh nên biết đổi vai để vai nọ đỡ vai kia. Nhưng cũng không thể cứ đổi vai mà đi mãi được. Muốn nghỉ phải đến trạm bởi không thể cứ thế đặt thương binh xuống bất cứ chỗ nào, nhất là gặp trời mưa, chỗ nào cũng bùn đất, nước lõng bõng. Không nhớ ai có sáng kiến mang theo một cây chống có chạc để nếu mỏi quá thì đặt đòn khiêng lên đấy, thế là cái vai được giải phóng một lúc!
Thanh niên xung phong thì mở đường, vá đường, dọn đất đá lở, san lấp hố bom, cứu xe lầy thụt… làm lán trại, kho cho bộ đội. Dù công việc vất vả, khó nhọc, ăn uống kham khổ, nhưng mà vui. Vui nhất là những chị những anh chỉ đầu mày cuối mắt đã nhận ra ngay đây chính là cái nửa của mình mà ngày ấy gọi là phải lòng nhau, để rồi sau nên vợ nên chồng. Ông Lò Văn Tun (sinh năm 1930, hiện ở xã Chiềng Pấc, Sơn La) và bà Lò Thị Khuýn (sinh năm 1937, người cùng bản) nhờ đi dân công mà nên vợ nên chồng, có tới 9 người con.
Phục vụ trực tiếp người lính ĐBP có hai nghề. Y và biểu diễn. Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích (sinh năm 1929, hiện ở Hà Nội) ngày ấy là y tá đội điều trị trọng thương. Những ca nhẹ cũng bị mất tay mất chân, nặng thì thủng bụng, thủng ngực, vỡ đầu. Việc đầu tiên bà và các đồng nghiệp phải làm là lau rửa vết thương, phân loại xem ai cần mổ trước mổ sau. Bà Bích vẫn còn nhớ như in, có mấy thương binh bị ở vùng ngực, gắp được đạn ra rồi, nhưng rất khó thở, khó ngủ nằm. Thế là chị em y tá, cả các chị dân công cũng được huy động phục vụ cùng, cứ phải ngồi trên sàn nứa, lưng dựa vào vách lán, hai tay giữ làm chỗ dựa cho các anh ấy tựa vào mình, cho đến khi thấy hơi thở nhè nhè, đều đều mới lựa đỡ các anh nằm xuống. Còn mình thì… lúc ấy cũng đã ngủ… ngồi được một giấc ngắn rồi.
Bà Bích đã có chồng. Chồng bà cũng đi chiến dịch nhưng ở đơn vị chiến đấu, cũng không biết ở mũi nào. Sau ngày chiến thắng mới biết hai vợ chồng cùng mặt trận nhưng khác công việc. Vì có chồng rồi nên bà đã giải quyết được việc mà các y tá trẻ khác không làm được. Ấy là giúp các thương binh bị thương cả hai tay đi tiểu.
- Trông chị làm đây này. Nếu em coi các thương binh như anh, như cha chú mình mà lâm vào hoàn cảnh này thì em sẽ làm được. Có chút ngượng ngùng đấy, nhưng phải vượt qua - bà Bích kể lại.
Cô y tá Nguyễn Thị Cân (sinh năm 1928, hiện ở TP.Hồ Chí Minh) phụ mổ y sĩ Vũ Văn Hoán, trạm trưởng của F312 gặp lúc thuốc mê, thuốc tê hết nhẵn, chưa về kịp. Phải đợi 4 tiếng nữa thuốc mới về. Nhưng anh thương binh Nguyễn Văn Tại (sinh năm 1924, trung đội trưởng C241, D11, E141, F312, hiện ở TP.Hồ Chí Minh) nhất định đòi mổ ngay. Viên đạn nằm trong gót chân, làm sao chịu nổi đau đớn? Nhưng… rồi cũng phải chiều vậy. Tại cứ nghiến răng ken két, nước mắt và mồ hôi cùng đổ ra. Không một tiếng kêu rên. Lẽ ra y tá phụ mổ phải kịp thời cầm panh bông thấm máu chỗ mổ thì phẫu thuật viên mới rạch tiếp được. Nhưng bà Cân, đau như cùng nỗi đau của thương binh, thế là nước mắt cũng trào ra, tay run run, chỗ cần thấm máu thì chả chấm, cứ chấm vào đâu ấy! Đến nỗi ông Hoán cáu phải đuổi ra, gọi y tá Hạng vào thay… Ca mổ thành công. Hai năm sau ông Tại và bà Cân thành… vợ chồng!
![]() |
| Vợ chồng ông Nguyễn Văn Tại và bà Nguyễn Thị Cân hồi mới cưới |
![]() |
| Ông Tại và bà Cân bây giờ |
Văn công thì là sa sỉ phẩm với bộ đội rồi, nhất là nữ văn công. Bà Trần Thị Ngà (sinh năm 1938, hiện ở Hà Nội) ngày ấy mới 16 tuổi, cùng tuổi với ông Lưu Anh Tuấn, hai người ít tuổi nhất tham gia chiến dịch ĐBP. Ông Tuấn là lính báo vụ, cháu ngoại Cục trưởng Thông tin Hoàng Đạo Thúy, hầm ở Sở Chỉ huy Mường Phăng gần hầm Đại tướng. Hai ông cháu, người cao tuổi nhất (55), người ít tuổi nhất. Thời ấy, diễn viên nào cũng hát được, múa được, đóng kịch được. Chỉ riêng chuyện một người phụ nữ xuất hiện trước đơn vị đã là hiện thực hóa một giấc mơ rồi.
Mấy tháng liền, toàn đực rựa với nhau, thế nên mới có chuyện tranh nhau đi lấy gạo, dù phải cuốc bộ 15-17 cây số, mang vác vài chục cân về. Chỉ là để được nhìn thấy cô gái giữ kho, được nghe một tiếng con gái thôi đã đủ lâng lâng nhẹ bước trở về rồi. Nữa là giờ lại được xem văn công hát: Hành quân xa, Em bé Mường La… Xem múa xòe, múa quạt, nhẩy sạp…; xem một màn kịch ngắn về người nữ anh hùng đầu tiên của quân đội Nguyễn Thị Chiên thì đời lên tiên thật rồi. Dĩ nhiên đấy là ở tuyến ngoài, trước hoặc sau cuộc chiến đấu. Đấy là những đóng góp hữu hình của các chị.
Những người phụ nữ ở hậu phương nhưng vẫn có sức cổ vũ vô song với người ra trận. Một lá thư nhà của người hậu phương gửi ra, không chỉ là niềm hạnh phúc của người nhận mà là của nhiều người. Cả tổ đang đổ mồ hôi cắm cúi đào giao thông hào, bỗng tiểu đội trưởng gọi: Tỷ có thư này. Cả tổ sững người. Tỷ vội vứt cuốc đấy chạy lại, mắt sáng lên, tay lấm lem đất cát vội đưa xuống xoa xoa vào hai ống quần, đưa cả hai tay tóm lấy bức thư. Không ai bảo ai, cả tổ cũng bỏ cả công việc xúm quanh Tỷ trong cái hầm hàm ếch. Chưa đọc đã biết là thư của Nụ, cô hàng xóm hôm tiễn anh lên đường đã tặng chiếc khăn thêu đôi chim bồ câu tung cánh, ngậm một cành lá xanh. Quá đủ ý tứ muốn làm vợ mình. Chiếc khăn ấy vẫn nằm dưới đáy ba lô như một linh vật, chẳng bao giờ được dùng như một vật dụng hằng ngày.
![]() |
| Ông Phan Văn Tỷ và “Cô Nụ ngày xưa” |
Anh Ái cởi phăng áo sơ mi che phía trên. Ánh lửa vàng vàng từ chiếc bật lửa đủ chiếu sáng tờ giấy học trò. Người có quyền sở hữu cá nhân bức thư đọc to cho cả tổ nghe: “Từ đất Nghi Xuân, Hà Tĩnh, em viết thư thăm anh…”.
Đúng lúc ấy, một quả đạn 105ly nổ ngay trên miệng chiến hào. Tỷ gấp vội lá thư bỏ vào túi áo ngực… Sáng mai tha hồ đọc. Chỉ nhờ lá thư ấy mà anh quên hết mệt nhọc. Cả tổ cũng hăng lên chỉ trong hai giờ mà đào được thêm 3m hào nữa. Vừa lúc anh nuôi mang xôi lên, ăn thấy ngon hơn hẳn các bữa khác. Đêm ấy cũng được ngủ gần hai tiếng như anh em, nhưng Tỷ không sao ngủ được. Sáng ra, vừa giở thư ra đọc cho cả tổ nghe xong thì có lệnh chuẩn bị chiến đấu… Các anh vào vị trí, địch bắn dọn đường rồi ào lên tấn công. Đợi vừa đến tầm bắn hiệu quả, tất cả đồng loạt nổ súng. Những thằng chưa chết thì ăn lựu đạn của bố mày đây này…! - Đây là lời kể của Phan Văn Tỷ (sinh năm 1932 chiến sĩ C811, D9, E176, E316, hiện sống ở Hòa Bình)…
Chưa bao giờ, người chỉ huy cao nhất ở ĐBP kể về tâm trạng mình. Tất cả các hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đều không có một dòng riêng tư nào. Ông chỉ nói về việc chung, về đại sự. Nhưng cho dù bận đến thế nào chăng nữa, tôi tin rằng cũng có một khoảng lặng hiếm hoi nào đấy, ông từng nhớ về hậu phương mình - Giáo sư Đặng Bích Hà (cô giáo thời đại học Sư phạm của tôi 56 năm trước) và chắc hẳn, ông phải thấy ấm lòng khi phu nhân vẫn từng ngày mong tin ông thắng trận trở về. Nếu không, sao ông có hai người con mang tên Điện Biên và Hạnh Phúc(1)?
Nguyễn Bắc Sơn
* Ảnh trong bài được lấy từ cuốn “Chuyện người làm nên lịch sử” - nhiều tác giả - NXB Chính trị Quốc gia, 2009
















