Bài 2: Rào cản để đảm bảo quyền tham chính của phụ nữ

Chia sẻ

Mặc dù Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách đảm bảo quyền tham chính của phụ nữ, tạo sự bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị. Nhưng thực tiễn cho thấy, vẫn còn rất nhiều rào cản trong vấn đề phụ nữ tham chính hiện nay.

Rào cản từ khung chính sách, pháp lý

Bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện, các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp lý và tổ chức thực hiện để người phụ nữ được thụ hưởng và tiếp cận các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong lĩnh vực chính trị.

Nhìn từ góc độ chính sách, pháp lý, trong thời gian qua, chúng ta đã có nhiều chính sách, văn bản pháp luật về vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, tạo cơ hội và đảm bảo quyền cho phụ nữ tham chính. Nhưng khi thực thi lại cho thấy vẫn còn tồn tại nhiều quy định chưa phù hợp dẫn tới hạn chế những điều kiện và cơ hội tham chính của phụ nữ. Điển hình như quy định về tuổi đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, quy định về tuổi hưu, chính sách nghỉ sinh, các dịch vụ công hỗ trợ phụ nữ làm việc...

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Triệu Văn Cường nêu ý kiến về Đề án “Tăng cường sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo và quản lý ở các cấp hoạch định chính sách giai đoạn đến năm 2030” tại Hội thảo do Bộ Nội vụ tổ chức (ảnh: Int)Thứ trưởng Bộ Nội vụ Triệu Văn Cường nêu ý kiến về Đề án “Tăng cường sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo và quản lý ở các cấp hoạch định chính sách giai đoạn đến năm 2030” tại Hội thảo do Bộ Nội vụ tổ chức (ảnh: Int)

PGS. TS Nguyễn Thị Báo (giảng viên cao cấp, Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng: Các quy định khác biệt về độ tuổi giữa nam và nữ về đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm với sự chênh lệch là 5 năm đã hạn chế cơ hội phát triển của cán bộ nữ nói chung. Đây là nguyên nhân của mọi rào cản, bất lợi về sự thăng tiến của phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống. Do có sự phân biệt về tuổi hưu dẫn đến sự phân biệt độ tuổi trong quy hoạch, bổ nhiệm, đề bạt giữa nam giới và phụ nữ.

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Báo, thực tế lâu nay cho thấy hầu hết chị em khi đạt được học vị tiến sĩ, học hàm giáo sư, phó giáo sư đều đã ở độ tuổi 45-50, nhưng theo quy định họ chỉ được tham chính đến tuổi 55 (tuổi nghỉ hưu) nên cơ hội để nữ trí thức có trình độ tham chính là rất hạn chế. Bên cạnh đó, các chính sách cụ thể về quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo, bổ nhiệm, luân chuyển đối với các bộ nữ là trí thức, cũng như các chính sách đặc thù đối với cán bộ nữ đi học có con nhỏ... chưa được xây dựng, thực hiện một cách đồng bộ. Điều này dẫn tới thiếu hành lang pháp lý và chính sách nhằm khuyến khích, ủng hộ phụ nữ đi học sau đại học và tham gia các hoạt động chính trị.

Theo Điều tra của Viện Nghiên cứu Khoa học lao động và xã hội - Bộ LĐTB&XH, có gần 41% nữ giới vẫn tiếp tục làm việc sau khi nghỉ hưu. Điều đó đồng nghĩa với việc xã hội vẫn rất cần đến kiến thức kinh nghiệm và sức lao động của phụ nữ sau 55 tuổi.

Bên cạnh đó, chính sách nghỉ sinh của cha mẹ và hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em ban ngày là những trụ cột quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển nghề nghiệp của phụ nữ. Hiện nay, chính sách nghỉ sinh là 6 tháng đối với người mẹ. Điều này đặt ra những nhu cầu xã hội lớn từ hệ thống dịch vụ chăm sóc trẻ em ban ngày khi người phụ nữ quay trở lại làm việc. Tuy nhiên, chưa có một văn bản pháp luật nào đưa ra những quy định trách nhiệm và chế tài bảo đảm đối với cơ quan nhà nước, hoặc cơ sở đào tạo về vấn đề này nên hầu hết các cơ quan, đơn vị hiện nay không có nhà trẻ, hay lớp mẫu giáo cho con cán bộ, hay học viên ngay tại trụ sở của mình khiến nhiều phụ nữ bắt buộc phải lựa chọn ưu tiên gia đình và con nhỏ trước khi lựa chọn các cơ hội đào tạo, hay thăng tiến.

Rào cản từ định kiến văn hóa, xã hội và vai trò giới

Thạc sĩ Mai Thị Diệu Thúy (đại học Luật, đại học Huế) cho rằng: Rào cản từ định kiến văn hóa, xã hội và vai trò giới ảnh hưởng rất lớn đối với phụ nữ tham chính. Do định kiến giới vẫn còn ăn sâu bén rễ trong xã hội gây ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng tham chính và năng lực lãnh đạo của phụ nữ. Các quan niệm "trọng nam khinh nữ", "nam tướng nữ phó" và quan điểm cho rằng phụ nữ yếu đuối nên thiếu kiên quyết trong việc ra quyết định đã khiến phụ nữ ít được ủng hộ vào các vị trí lãnh đạo có tầm ảnh hưởng lớn.

Các đại biểu tham dự hội thảo Chia sẻ kinh nghiệm và sáng kiến nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị (ảnh: Int)Các đại biểu tham dự hội thảo Chia sẻ kinh nghiệm và sáng kiến nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị (ảnh: Int)

Bên cạnh đó, quan niệm về vai trò giới truyền thống cho rằng đàn ông lo việc đại sự, đàn bà lo việc tiểu sự đã ủng hộ nam giới trong lĩnh vực nghề nghiệp, và hướng đến làm lãnh đạo. Đối với nữ giới luôn bị gắn vào vai trò giữ hạnh phúc gia đình, phẩm chất người nội trợ, chăm sóc các thành viên trong gia đình. Vì thế cơ hội tham chính của phụ nữ bị hạn chế ngay từ khi họ chưa bắt đầu. Chính những định kiến về năng lực của phụ nữ và các quan niệm rập khuôn về hình ảnh người lãnh đạo quản lý đang cản trở nỗ lực phấn đấu của phụ nữ.

Ngoài ra, trong các cơ quan, tổ chức, sự tác động của định kiến giới đến quan điểm tư tưởng của những đứng đầu cơ quan, cấp ủy Đảng sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến công tác cán bộ nữ, làm cho cán bộ nữ dù có trình độ phẩm chất ngang bằng, thậm chí cao hơn nam giới vẫn gặp nhiều khó khăn khi được xem xét đề bạt, hoặc tạo điều kiện để học tập và bồi dưỡng nghiệp vụ.

Cùng với đó là rào cản từ gia đình cũng ảnh hưởng lớn đến việc tham chính của phụ nữ hiện nay. Trong gia đình, việc phân công lao động trên cơ sở giới vẫn tồn tại nặng nề, mặc dù đã có sự chia sẻ cân bằng giữa hai giới trong công việc sản xuất kinh doanh, hoặc một số công việc khác. Tuy nhiên, công việc gia đình vẫn là gánh nặng đặt lên vai người phụ nữ. Nếu họ muốn phấn đấu, làm lãnh đạo thì sẽ phải chịu gánh nặng "kép".

Rất nhiều phụ nữ có cơ hội phấn đấu ở cơ quan nhưng do gánh nặng công việc gia đình khiến họ không còn thời gian đầu tư cho việc tham gia vào công tác quản lý. Đây là thách thức lớn đặt ra đối với hầu hết phụ nữ hiện nay.

Khoảng trống giữa hoạch định và thực thi chính sách bình đẳng giới trong chính trị

Tại Hội thảo khoa học xây dựng Đề án “Tăng cường sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo và quản lý ở các cấp hoạch định chính sách giai đoạn đến năm 2030” do Bộ Nội vụ tổ chức tháng 7/2020, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Triệu Văn Cường cho biết: Thực tế cho thấy tỷ lệ cán bộ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và đóng góp của phụ nữ Việt Nam. Từ các công trình nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn để xây dựng Đề án cho đến những thông tin, số liệu gần đây nhất để phục vụ Hội nghị Trung ương lần thứ 12, khóa XII và kết quả đánh giá sơ bộ việc tổ chức Đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cho thấy về tổng thể, hầu hết các cơ quan Đảng, Nhà nước ở các cấp chưa đạt tỷ lệ và cơ cấu cán bộ nữ. Tỷ lệ cán bộ nữ trong các cơ quan Đảng và đoàn thể cao hơn hẳn so với các cơ quan nhà nước; trong bộ máy nhà nước thì tỷ lệ cán bộ nữ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan hành chính nhà nước thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ tương ứng trong các cơ quan lập pháp, dân cử và tư pháp. Và, ngay trong bộ máy hành chính nhà nước thì tỷ lệ này cũng tiếp tục phân hóa theo các lĩnh vực quản lý nhà nước, trong đó lĩnh vực quản lý nhà nước về quốc phòng và an ninh có tỷ lệ thấp nhất. Xem xét theo tỷ lệ, cơ cấu các dân tộc thì có rất ít cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý là dân tộc thiểu số, dân tộc ít người và dân tộc rất ít người.

Đánh giá lại công tác quy hoạch, bổ nhiệm dưới góc độ bình đẳng giới, Đảng ta đã đánh giá khách quan tại Đại hội Đảng lần thứ XII cho rằng: Công tác quy hoạch một số nơi còn khép kín, chưa bảo đảm được sự liên thông, gắn kết. Tỷ lệ cán bộ lãnh đạo và cấp ủy là người đứng đầu dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, cán bộ trẻ, việc luân chuyển bố trí một số chức danh cán bộ lãnh đạo không là người địa phương không đạt yêu cầu. Điều này được thể hiện qua tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy Đảng ở cấp TW 13,7%, cấp tỉnh 12,6%, cấp huyện 15,5%, cấp xã 20,8%; Tỷ lệ tham gia HĐND các cấp (cấp tỉnh 26,6%, cấp huyện 27,5% tại nhiệm kỳ 2016-2021) và Quốc hội (26,8% tại nhiệm kỳ 2016-2021); Tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan chỉ dao động dưới 50%. Như vậy đối chiếu với mục tiêu của Nghị quyết 11-NQ/TW và Chiến lược Quốc gia Bình đẳng giới vẫn còn khoảng cách khá xa.

 Báo cáo đánh giá 10 năm thi hành Luật Bình đẳng giới của Bộ LĐ-TB&XH chỉ ra nguyên nhân của tồn tại trên là do vẫn còn thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, cương quyết của các cấp uỷ Đảng và sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ban, ngành trong công tác quy hoạch, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ nữ. Nhiều cấp ủy và chính quyền các cấp, các ngành còn chưa nhận thức đầy đủ quan điểm công tác cán bộ nữ là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng và là yêu cầu khách quan. Cơ quan nhà nước chính thức được giao chức năng quản lý nhà nước về công tác phụ nữ chưa có.

Tại mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương, việc ban hành và thực hiện chính sách đối với cán bộ nữ hiện nay tùy thuộc vào sự quan tâm của lãnh đạo. Hầu hết các tỉnh, thành phố đều có chính sách hỗ trợ bằng tiền đối với cán bộ nữ được cử đi học và mức hỗ trợ cao hơn so với nam giới, song đối với các Bộ, ngành hầu như chưa có chính sách hỗ trợ riêng khuyến khích cán bộ nữ tham gia đào tạo, bồi dưỡng.

Trong các kỳ bầu cử, việc phân bổ cơ cấu đôi khi dẫn đến tình trạng đại biểu nữ phải gánh quá nhiều cơ cấu, điều này ảnh hưởng rất lớn tới việc lựa chọn, tìm nhân sự, đồng thời ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động. Gánh nặng công việc gia đình và những định kiến về năng lực quản lý của phụ nữ góp phần gây trở ngại đối với phụ nữ tham gia vào lĩnh vực chính trị.

HẠ THI (còn nữa)

Tin cùng chuyên mục

Xông đất, xuất hành Tết Bính Ngọ 2026: Hiểu đúng để khởi đầu hanh thông

Xông đất, xuất hành Tết Bính Ngọ 2026: Hiểu đúng để khởi đầu hanh thông

(PNTĐ) - Tết Nguyên đán là lễ hội truyền thống lớn nhất của người Việt, đánh dấu sự khởi đầu của năm mới âm lịch. Tên gọi Nguyên đán mang hàm nghĩa sâu sắc trong Hán tự: “Nguyên” là khởi đầu, nền tảng của một chu kỳ; “Đán” là buổi sáng sớm, khi mặt trời vừa vượt lên khỏi đường chân trời. Vì vậy, Tết Nguyên đán chính là “buổi sáng đầu tiên” của năm mới, biểu tượng cho sự sinh khởi, đoàn viên và hy vọng.
Thức uống detox cho cơ thể ngày Tết

Thức uống detox cho cơ thể ngày Tết

(PNTĐ) - Các thức uống detox thường giàu nước, vitamin và chất chống oxy hóa, giúp hỗ trợ loại bỏ độc tố, cải thiện tiêu hóa và kiểm soát cảm giác thèm ăn. Theo World Health Organization (WHO), duy trì đủ lượng nước trong cơ thể cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ quá trình trao đổi chất và giảm cân.
“Đẹp bền vững” đón Tết

“Đẹp bền vững” đón Tết

(PNTĐ) - Sở hữu một vóc dáng thon gọn để tự tin diện những bộ đồ yêu thích trong dịp Tết là nhu cầu thẩm mỹ chính đáng của phụ nữ. Tuy nhiên, thay vì chạy theo các phương pháp làm đẹp "cấp tốc" đầy rủi ro, việc hiểu đúng về cơ chế tích mỡ và nguyên tắc giảm cân khoa học sẽ giúp chị em duy trì “vẻ đẹp bền vững”.
Thông điệp của năm con Ngựa

Thông điệp của năm con Ngựa

(PNTĐ) - Tết Bính Ngọ 2026 không chỉ là dịp nhắc nhớ về con ngựa - loài vật gắn liền với sức mạnh, bền bỉ và chuyển động, mà còn mở ra cuộc trò chuyện sâu sắc về những nhịp mà chúng ta chạy trong đời. Đằng sau hình ảnh chú ngựa không ngừng phi nước đại là những triết lý về nuôi dạy con cái, vai trò của phụ nữ hay về sự khác biệt Đông - Tây và cả ước mong tìm được một nhịp sống vừa vặn cho mỗi gia đình.