Để không còn những giọt nước mắt rơi
Xa xa, khi những cuộn khói lam chiều bốc lên nghi ngút, nhà nhà bắt đầu nhen lửa chuẩn bị bữa cơm chiều cũng là lúc chị cùng cô con gái lớn năm nay học lớp 8 đi nương trở về. Vì dịch bệnh Covid-19, sau khi phải tạm nghỉ việc nhà máy ở dưới xuôi, chị về nhà phụ giúp mọi người việc nương rẫy, đồng áng.
Chị là mẹ của cô bé học sinh trong lớp tôi chủ nhiệm. Kể về cuộc đời mình chị nói: “Bao nhiêu cái buồn cái khổ nó đổ hết vào cuộc đời em. Nhưng trong cái khó lại ló cái khôn chị ạ. Em đã tự chủ được cuộc đời mình. Bằng chứng là em vẫn và sẽ lo cho các con em không phải thất học. Có như vậy đời chúng nó mới bớt khổ…”. Năm nay 34 tuổi, chị một nách 3 con. Chị lấy chồng năm 20 tuổi, so với những cô gái dân tộc Thái thì thuộc diện lập gia đình muộn. Sau khi cưới, chị theo chồng về Điện Biên sinh sống. Cũng bởi suy nghĩ: “Theo đuổi cái chữ còn khó hơn làm nương”, nên chị với chồng chỉ học hết trung học cơ sở. Không bằng cấp cũng chẳng có nghề nghiệp ổn định, hai vợ chồng trẻ lấy nhau về một thời gian ngắn lại sinh liền 3 đứa con, thành thử kinh tế bấp bênh, trong nhà luôn thiếu trước hụt sau. 3 năm đầu sau khi cưới, chồng chị còn chí thú làm ăn hay chia sẻ việc nhà với vợ, nhưng đến khi chị sinh đứa thứ 3 là con gái, anh tỏ ra chán nản, thường mượn rượu giải khuây. Có rượu là anh bắt đầu chì chiết thói “không biết đẻ” của vợ. Hết chồng mắng nhiếc lại thêm mẹ chồng ra lườm vào nguýt. Vì trước đó khi anh đòi lấy chị, bà đã không đồng ý cho con trai trưởng lấy vợ xa đến mấy trăm cây số. Chị cũng như nhiều chị em phụ nữ khác trong bản vì trình độ dân trí thấp nên không thể tự thanh minh cho cái “tội không biết đẻ” của mình.
Ảnh minh họa
Những buổi tụ tập uống rượu của chồng tăng theo cấp số nhân. Về nhà, nghe tiếng con khóc quấy, mẹ trách cứ, anh đổ dồn sự hằn học lên chị. Và những lần thượng cẳng chân hạ cẳng tay của anh với vợ cũng ngày một nhiều lên. Mỗi lần mẹ bị đánh là hai đứa con gái lớn lại la khóc ầm ĩ, đôi mắt thất thần sợ hãi. Giọt nước tràn ly, chị không thể sống mãi trong cảnh bị bạo hành cả thể xác lẫn tinh thần như vậy. Gần cuối năm 2019, chị và anh ra tòa ly hôn. Chị đưa cả 3 con về nương nhờ bà ngoại. Khi ra khỏi nhà chồng, đứa lớn đang học lớp 5. Đứa nhỏ còn ẵm ngửa. Chị khóc thương cho phận mình thì ít mà thương cho 3 đứa trẻ côi cút sớm thiếu đi tình thương yêu của bố thì nhiều.
Sống nhờ bà ngoại một thời gian, đợi con út cứng cáp hơn, theo bà con trong bản về dưới xuôi làm công ty để kiếm tiền gửi về nuôi con. Vậy là trong phút chốc cả 3 đứa trẻ thiếu hụt đi cả hai tình yêu thương của cả bố và mẹ. Cũng bởi cái đói nghèo cùng suy nghĩ phân biệt con trai – con gái của bố chúng mà các trẻ trở thành nạn nhân của chính cuộc hôn nhân mà bố mẹ các em xây dựng lên.
Ảnh minh họa
Trong chương trình Ngữ văn lớp 7 có một một bài kể về cuộc chia lìa của hai anh em bởi ba mẹ chúng chia tay nhau. Người anh sống với ba, em gái sống cùng mẹ và không được đi học nữa. Tôi còn nhớ hôm đó, khi tôi chỉ vừa đọc đoạn đầu tác phẩm, không gian lớp học của tôi đã chùng xuống. Có em xin tôi ra ngoài với đôi mắt đỏ hoe. Bỗng cô con gái lớn của chị đứng lên, vừa khóc vừa nói: “Cô ơi, em không muốn học bài này, em cũng giống hai anh em Thành và Thủy, tại sao người lớn lại muốn bỏ nhau vậy cô?”. Có lẽ, tác phẩm văn học ấy đã tác động mạnh mẽ đến cô học sinh nhỏ cũng như nỗi xót thương cho cảnh ngộ mà lẽ ra em không phải gánh chịu. Tôi đã động viên để cô học trò sớm vượt qua cơn xúc động. Cũng chính nhờ bài học hôm ấy và câu hỏi của cô học trò đáng thương đã khiến tôi càng thấm thía và thông cảm nhiều hơn với những em học sinh nữ khi phải sinh ra trong một gia đình mà tư tưởng cổ hủ lạc hậu “trọng nam khinh nữ” còn đè nặng.
Từ đó tôi muốn giáo dục, truyền tải thông điệp về tình yêu thương, lòng bao dung, nhân ái, sự cảm thông, chia sẻ, những phẩm chất quý báu của người Việt tới các học sinh, động viên các em hãy sẻ chia, đùm bọc các bạn có hoàn cảnh éo le, thiệt thòi hơn mình. Đồng thời, sau buổi học hôm đó, chúng tôi đã lên kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống, tuyên truyền tới tất cả các em học sinh chùm chủ đề “Mất cân bằng giới tính, từ tư tưởng trọng nam khinh nữ, chống bạo lực gia đình”. Buổi ngoại khóa thành công ngoài mong đợi với nhiều tiểu phẩm do chính các đội thi là các em học sinh diễn xuất. Với sự hỗ trợ của thầy cô, các em học sinh đã trở thành những tuyên truyền viên xuất sắc nhất trong chính ngôi nhà của mình nhằm dần xóa nhòa cái tư tưởng lạc hậu kia. Và tôi cũng tin, từ những bài học hôm nay, sau này khi lớn lên, các học sinh nam của tôi sẽ trở thành những người chồng, người cha tốt luôn thương yêu vợ, con, cho dù là con gái. Còn các học sinh nữ sẽ tự tin và có kiến thức, kỹ năng bảo vệ bản thân, không để suy nghĩ cổ hủ trói buộc mình.
Ảnh minh họa
Lời ngỏ: Tôi là một độc giả trung thành với tờ báo Phụ nữ Thủ đô. Khi thấy Quý báo tổ chức cuộc thi “Các vấn đề gia đình thời nay” lần thứ XI với chủ đề “Chung tay vì môi trường sống an toàn cho phụ nữ và trẻ em gái”, sau nhiều ngày suy nghĩ tôi đã quyết định viết bài tham gia. Bài viết gửi đến cuộc thi tôi lấy cảm hứng từ chính cô học trò hơn 2 năm tôi chủ nhiệm. Hoàn cảnh gia đình em ở nơi tôi công tác không phải là hiếm. Ở đó, bà con vẫn mang nặng tư tưởng: “Trọng nam khinh nữ”, “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. ở đó, vẫn còn nhiều người vợ như chị phụ huynh của tôi, nhiều em bé gái như em học sinh trong lớp tôi. Tôi rất thương họ và muốn làm một điều gì đó để góp phần thay đổi nhận thức của cộng đồng. Cùng với việc tuyên truyền về bình đẳng giới lồng ghép trong các bài giảng, tôi hy vọng bài dự thi này sẽ truyền đi thông điệp về bình đẳng giới. Chúng ta hãy cùng xây dựng môi trường sống an toàn, bình đẳng, hạnh phúc cho phụ nữ và trẻ em gái, để không còn những giọt nước mắt rơi vì những định kiến.
PHẠM THỊ YẾN
Giáo viên trường THCS 19/5, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.









