Giữ hồn truyền thống trong nhịp sống hiện đại
(PNTĐ) - Với hơn một nghìn làng có nghề, Thủ đô đang đứng trước yêu cầu vừa bảo tồn giá trị truyền thống, vừa đổi mới phương thức sản xuất để phát triển bền vững. Những nỗ lực trong quy hoạch, xây dựng thương hiệu, bảo vệ môi trường và phát triển con người đang từng bước tạo sinh khí mới cho các làng nghề Hà Nội.
Không gian văn hóa - kinh tế đặc thù của Thủ đô
Nằm bên dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa, làng gốm sứ Bát Tràng được biết đến là trung tâm sản xuất, kinh doanh gốm sứ nổi tiếng, đồng thời là địa chỉ hấp dẫn khách du lịch. Gốm Bát Tràng có truyền thống lịch sử nghìn năm, được xem là một trong bốn nghề tinh hoa của Thăng Long xưa, gồm “Lĩnh hoa Yên Thái, Đồ gốm Bát Tràng, Thợ vàng Định Công, Thợ đồng Ngũ Xã”. Đến với làng gốm truyền thống này, du khách được hòa mình vào không khí lao động nhộn nhịp và niềm đam mê sáng tạo trong từng cửa hàng, cơ sở sản xuất gốm. Không chỉ có thể dừng chân ở bất kỳ đâu, từ những phòng trưng bày rực rỡ ánh đèn đến những con ngõ nhỏ để lựa chọn các tác phẩm gốm đủ màu sắc, hình dáng và kích cỡ, mà mỗi du khách đều được tự tay làm gốm, dưới sự hướng dẫn của các nghệ nhân. Những nghệ nhân và người thợ của làng gốm Bát Tràng đã và đang nỗ lực đẩy mạnh xây dựng nơi này trở thành một làng nghề truyền thống - một điểm du lịch hấp dẫn của Thủ đô.
Một ngôi làng khác nằm bên dòng Nhuệ giang hiền hòa cũng đang ngày ngày gìn giữ tinh hoa văn hóa Việt, đó là làng lụa Vạn Phúc. Đây là một trong những làng nghề dệt lụa nổi tiếng nhất Việt Nam, được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam công nhận là “Làng nghề dệt lụa tơ tằm lâu đời nhất vẫn duy trì hoạt động cho đến nay”. Bên cạnh giá trị văn hóa và lịch sử, làng lụa Vạn Phúc còn trở thành một điểm đến hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Điều làm nên sức hút đặc biệt của lụa Vạn Phúc chính là sự tinh tế trong từng sợi tơ, từng hoa văn. Lụa nơi đây không chỉ mềm mượt, bền chắc mà còn chứa đựng hồn cốt của người thợ. Những sản phẩm lụa không chỉ để mặc mà còn để ngắm, để cảm nhận một vẻ đẹp mang đậm tính nghệ thuật và văn hóa. Ngày nay, bên cạnh việc bảo tồn nét đẹp truyền thống, Vạn Phúc cũng đang từng bước đổi mới để bắt kịp với thị hiếu của thị trường. Làng lụa trở thành một không gian văn hóa với những con đường làng rợp sắc màu lụa, những ngôi nhà cổ đậm dấu thời gian, cùng những khung cửi vẫn đều đặn ngân lên tiếng kẽo kẹt…, khẳng định sức sống bền bỉ của văn hóa làng nghề Việt Nam.

Làng gốm Bát Tràng và làng lụa Vạn Phúc là 2 làng nghề đầu tiên của Việt Nam trở thành thành viên Mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo thế giới. Vinh dự đó không chỉ giúp Hà Nội khẳng định sự nỗ lực chuyển mình trong phát huy giá trị làng nghề, mà còn là cơ hội để nâng cao vị thế và năng lực cạnh tranh để mở rộng thị trường, hướng ra quốc tế.
Hà Nội hiện là địa phương có số lượng làng nghề lớn nhất cả nước, với hơn 1.350 làng có nghề, trong đó khoảng 337 làng nghề, làng nghề truyền thống đã được công nhận. Các làng nghề phân bố chủ yếu tại khu vực ngoại thành như Gia Lâm, Thường Tín, Phú Xuyên, Hoài Đức, Quốc Oai, Chương Mỹ…, tạo nên một không gian văn hóa - kinh tế đặc thù gắn với nông thôn Thủ đô. Những cái tên như Bát Tràng (gốm sứ), Vạn Phúc (lụa), Phú Vinh (mây tre đan), Chuyên Mỹ (khảm trai), Ngũ Xã (đúc đồng) từ lâu đã vượt ra khỏi phạm vi làng xã, trở thành thương hiệu quen thuộc với người tiêu dùng trong nước và quốc tế. Không chỉ mang giá trị thẩm mỹ, các sản phẩm làng nghề còn chứa đựng chiều sâu lịch sử, phản ánh đời sống, tập quán và tâm hồn người Hà Nội.
Thực tiễn đã chứng minh, các làng nghề đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm và sinh kế cho người dân. Theo thống kê, hàng chục nghìn hộ gia đình tại Hà Nội có thu nhập từ nghề thủ công, với doanh thu toàn khu vực làng nghề ước đạt hàng chục nghìn tỷ đồng mỗi năm. Nhiều làng nghề có mức thu nhập bình quân cao hơn sản xuất nông nghiệp truyền thống từ 2-3 lần, góp phần giữ chân lao động tại chỗ, hạn chế tình trạng di cư lao động tự do.
Tuy nhiên, phía sau những con số tích cực ấy vẫn là nhiều thách thức. Không ít làng nghề vẫn duy trì quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, phụ thuộc vào kinh nghiệm truyền thống, chậm đổi mới công nghệ. Việc thiếu mặt bằng sản xuất tập trung, thiếu vốn đầu tư khiến năng suất lao động và khả năng cạnh tranh của sản phẩm còn hạn chế. Đặc biệt, ô nhiễm môi trường đang trở thành vấn đề đáng lo ngại tại một số làng nghề chế biến nông sản, dệt nhuộm, tái chế, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng sống của người dân. Bên cạnh đó, nguy cơ mai một nghề cũng hiện hữu khi lớp trẻ ngày càng ít mặn mà với những công việc đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỉ mỉ, thu nhập không ổn định trong giai đoạn đầu.
Nhiều giải pháp đồng bộ tiếp sức làng nghề
Trước thực trạng đó, Hà Nội đã và đang triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm bảo tồn và phát triển làng nghề theo hướng bền vững, hài hòa giữa kinh tế, văn hóa và môi trường. Những năm qua, Thành phố đã ban hành các chương trình, kế hoạch, quy hoạch, cơ chế chính sách như: Khuyến khích thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm làng nghề; hỗ trợ bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề; phát triển làng nghề kết hợp với du lịch; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đối với các làng nghề truyền thống; khuyến khích phát triển vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung; khuyến khích phát triển làng nghề thành phố Hà Nội…

Giai đoạn 2025-2030, Hà Nội đề ra mục tiêu khôi phục, bảo tồn được ít nhất 5 nghề, làng nghề truyền thống có nguy cơ mai một, thất truyền; phấn đấu công nhận mới ít nhất 10 nghề và 25 làng nghề, làng nghề truyền thống, phát triển 10 làng từ “làng nghề” lên “làng nghề truyền thống”… Để biến mục tiêu thành hiện thực, Thành phố tiếp tục triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ làng nghề, đặc biệt là thực hiện có hiệu quả “Đề án tổng thể phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2050”.
Song song với đó, Hà Nội gắn phát triển làng nghề với xây dựng thương hiệu và Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP). Đến nay, khoảng 100 làng nghề, làng có nghề đã có 929/3.463 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên. Thành phố cũng công nhận 10 mô hình trung tâm thiết kế sáng tạo, giới thiệu, quảng bá và bán sản phẩm OCOP gắn với du lịch cấp xã; hình thành 70 cụm công nghiệp, trong đó có 25 cụm công nghiệp làng nghề, thu hút hơn 4.000 cơ sở sản xuất và tạo việc làm cho gần 80.000 lao động. Thành phố cũng đặc biệt quan tâm đến đào tạo con người - yếu tố then chốt của phát triển bền vững. Các chương trình đào tạo nghề, truyền nghề, nâng cao kỹ năng quản lý, thiết kế, marketing và thương mại điện tử được triển khai, giúp người lao động làng nghề không chỉ giỏi tay nghề mà còn từng bước tiếp cận tư duy sản xuất, kinh doanh hiện đại.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khái niệm “công nghiệp văn hóa” đang trở thành con đường mới, đầy tiềm năng để hồi sinh và phát triển các làng nghề. Nghĩa là, thay vì chỉ là nơi mua bán sản phẩm, làng nghề trở thành những không gian văn hóa, nơi du khách có thể gặp gỡ, trò chuyện với những con người giữ lửa nghề và chứng kiến tận mắt quá trình tạo ra sản phẩm. Theo bà Hà Thị Vinh, Phó Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam; Chủ tịch Hội Thủ công mỹ nghệ và làng nghề Hà Nội, “giữ chân” các nghệ nhân và người dân địa phương chính là giữ lại những “người kể chuyện”, để truyền tải chân thực nhất giá trị văn hóa của làng nghề một cách sinh động và chân thực. Cùng với đó, lấy bảo tồn giá trị truyền thống làm nền tảng, gắn với đổi mới sáng tạo, du lịch và chuyển đổi số cũng là giải pháp thiết thực để làng nghề Hà Nội phát triển bền vững.













