Thương nhớ bánh in
(PNTĐ) - Những ngày cuối Chạp, khi gió bấc bắt đầu se sắt, trong cái mùi ẩm mục của lá khô ngoài vườn bỗng dậy lên hương thơm nồng nàn của nếp rang, đậu sấy. Đó là lúc tâm hồn những đứa con xa quê như tôi bắt đầu “rục rịch” chuyến tàu trở về với tuổi thơ, về với những mẻ bánh in thơm thảo của ngoại và mẹ.
Dẫu không còn thơ bé, lòng tôi vẫn háo hức mỗi khi Tết đến xuân về. Những chiếc bánh in dân dã, dung dị đã đi sâu vào tiềm thức, trở thành món quà mà bất cứ ai đi xa cũng đều tự hào khi nhắc nhớ.
Chẳng biết bánh in ra đời từ bao giờ, bà tôi bảo khi bà lớn lên đã thấy những chiếc bánh vuông vức hiện diện trang trọng trên bàn thờ tổ tiên mỗi dịp Tết. Nguyên liệu làm bánh vốn thuần hậu như đất đai quê mình: Bột nếp, bột năng, đậu xanh và đường kính. Cứ tầm hăm lăm, hăm sáu tháng Chạp, mẹ tôi lại tất bật chuẩn bị. Mẹ chạy quanh hàng xóm đặt mua loại đậu khô ngon nhất, soạn sửa lại mớ cối xay, rổ sảo và rửa sạch những chiếc khuôn gỗ đã nằm yên đợi chờ suốt một năm dài.

Tết trong ký ức của tôi là một “nghệ thuật phối hợp” nhịp nhàng của cả gia đình. Từ ngày nhỏ, mẹ đã được bà truyền dạy nên đôi tay mẹ vô cùng lão luyện. Mẹ thoăn thoắt vo nếp, xát đậu, rồi canh lửa rang sao cho hạt nếp ngả màu vàng sáp, hạt đậu giòn tan mà không cháy. Công việc thắng đường thường dành cho chị Hai, bởi chị có “bàn tay phù thủy” biết canh độ lửa để mẻ đường vừa tới, tạo nên độ kết dính hoàn hảo. Đặc biệt nhất là hình ảnh của ba. Sức vóc của ba dồn cả vào đôi tay chắc khỏe, cầm chiếc chày gỗ lớn nghiền thật nhuyễn hỗn hợp bột đường. Những nhịp chày đều đặn của ba như nhịp thời gian chậm rãi, nén chặt cả tình thương và sự kiên nhẫn vào từng thớ bột mịn màng.

Trước khi in bánh, mẹ khéo léo rắc một lớp bột năng mỏng để bánh dễ tháo khuôn và mặt bánh thêm phần mịn màng. Công đoạn này đòi hỏi sự tỉ mỉ lạ kỳ: Ép bột phải đủ lực, nếu chặt quá bánh sẽ cứng, nếu lỏng tay bánh lại dễ vỡ vụn. Những chiếc khuôn gỗ cũ kỹ đối với tôi khi ấy chứa đựng cả một bầu trời ước vọng. Này là chữ Phúc, chữ Thọ cầu mong bình an; này là hình chim phượng, cá chép mong ước sự sung túc, dư dả. Qua đôi tay mẹ, mỗi chiếc bánh ra đời không chỉ để ăn, mà còn là một tác phẩm nghệ thuật gói ghém tấm lòng dâng lên tiên tổ.
Trong gian nhà nhỏ xíu những ngày cuối năm, đâu đâu cũng thấy bột trắng dính lên quần áo, tóc tai, nhưng đó lại là niềm vui khó tả của không khí Tết cổ truyền. Chúng tôi cùng chờ đợi mẻ bánh đầu tiên ra lò. Mẹ thường dành riêng mẻ bánh này cho hai chị em, vì mẹ bảo: “Bánh đầu mùa bao giờ cũng thơm nhất, ăn lúc còn thèm mới thấy hết cái ngon”. Chiếc bánh in đậu xanh vàng óng, còn nóng hôi hổi, cắn nhẹ một miếng mà vị ngọt lịm tan chậm trên đầu lưỡi, thấm thía đến tận bây giờ.

Thấm thoát đã mấy chục năm, đời sống đổi thay với bao thức quà ngoại nhập lộng lẫy, nhưng thật mừng vì làng tôi vẫn giữ được lửa cho những chiếc khuôn gỗ cũ. Với tôi, bánh in không chỉ là món ăn, đó là hình bóng giọt mồ hôi của mẹ, là cái dáng vất vả “một nắng hai sương” của ba để chắt chiu từng hạt nếp thơm. Chiều cuối năm, nhấp một ngụm trà gừng cay nồng, cắn một miếng bánh in tan chậm trên đầu lưỡi, thấy cả mùa xuân, cả tình thân đang bừng nở trong lòng.













