Năm Ngọ và danh nhân văn hóa Việt tuổi Ngọ
(PNTĐ) - Tuổi Ngọ gắn với nhiều bậc kì tài nên thế giới và Việt Nam. Nhân dịp năm mới Bính Ngọ 2026, xin giới thiệu ba vị danh nhân văn hóa Việt tuổi Ngọ có ảnh hưởng rộng xứng tầm được thế giới vinh danh.
Danh nhân Lê Quý Đôn (1726 - 1784): Được xem là nhà bác học lớn nhất của Việt Nam thời phong kiến. Các công trình đồ sộ của ông đến nay còn lưu giữ rất nhiều nghiên cứu về các lĩnh vực như lịch sử, văn hoá, nghệ thuật âm nhạc cho đến tập quán, phong tục các xứ, các vùng, nghiên cứu về triết học, tư tưởng, về các thiết định pháp chế..., với một tư tưởng và hành động xuyên suốt là gần gũi với thực tế, gần gũi với nhân dân, gắn bó với những mong muốn của nhân dân. Ông cũng là người đọc và viết nhiều nhất trong suốt cả ngàn năm của chế độ phong kiến, là người muốn có nhiều những cải cách trong xã hội Việt Nam, là nhà chính trị quan tâm đến nhân dân, gần dân và là nhà trí thức có tư tưởng tự tôn, tự hào dân tộc.

Tầm vóc văn hóa của Lê Quý Đôn đương thời khiến nhiều học giả Trung Quốc, Triều Tiên ngưỡng mộ, nhất là khi ông cho ra đời cuốn sách Quần thư khảo biện nghiên cứu, tiếp thu các giá trị văn hoá cổ đại Trung Hoa và bình nghị theo quan điểm của bản thân, được người nước ngoài khen là "tài sánh ngang hào kiệt, học đáng bậc thánh hiền" (Tựa "Quần thư khảo biện" trang 49 của Chu Bội Liên - Nxb KHXH, 1995) và "Lời hay, ý thuận được viết ra từ những suy nghĩ và nhìn nhận sáng suốt, làm gương soi, làm mực thước cho đại thế. Đáng khâm phục thay"! (Lý Huy Trung, sứ thần Triều Tiên, trang 60, sách đã dẫn).
Lê Quý Đôn là một danh nhân văn hóa Việt, một niềm tự hào của người Việt. Nhưng đặt ông ở một không gian rộng hơn, một tầm vóc cao hơn, được quốc tế khẳng định và ngợi ca còn có thể thấy ông là nhân vật văn hóa mang những yếu tố có tính toàn cầu, tính nhân loại, tính thời đại. Chính vì thế mà UNESCO đã vinh danh ông nhân kỷ niệm 300 năm sinh (1726 - 2026).
Đại danh Y Thiền sư Tuệ Tĩnh: Tuệ Tĩnh Thiền sư (1330 – 1400) là một lang y sống ở giai đoạn cuối thời Trần. Ông được hậu thế suy tôn là tiên thánh của ngành thuốc Nam. Tại Hải Dương còn có các đền thờ ông ở xã Cẩm Văn, Cẩm Vũ ( Đền Bia, Đền Xưa), ở chùa Hải Triều làng Yên Trung, nay là chùa Giám, xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương. Hiện nay, tên của ông còn được đặt cho một trong những ngôi trường đào tạo cán bộ y tế hàng đầu cả nước: Trường cao đẳng Y Dược Tuệ Tĩnh Hà Nội.
Mồ côi cha mẹ từ lúc 6 tuổi, Nguyễn Bá Tĩnh được các nhà sư chùa Hải Triều và chùa Giao Thủy nuôi cho ăn học. Năm 22 tuổi, ông đậu Thái học sinh dưới triều vua Trần Dụ Tông, nhưng không ra làm quan mà ở lại chùa đi tu lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh. Những ngày đi tu cũng là những ngày ông chuyên học thuốc, làm thuốc, chữa bệnh cứu người. Năm 55 tuổi (1385), với trí tuệ uyên bác trong ngành y thuật của mình, Tuệ Tĩnh bị đưa đi cống cho triều đình nhà Minh. Sang Trung Quốc, ông vẫn làm thuốc, nổi tiếng, được vua Minh phong là Đại y Thiền sư. Ông qua đời tại Giang Nam, Trung Quốc.

Những năm ở trong nước, Tuệ Tĩnh đã chăm chú nghề thuốc: Trồng cây thuốc, sưu tầm kinh nghiệm chữa bệnh trong dân gian, huấn luyện y học cho các tăng đồ. Ông đã tổng hợp y dược dân tộc cổ truyền trong bộ sách giá trị là bộ Nam dược thần hiệu chia làm 10 khoa. Đặc biệt, ông có bộ Hồng Nghĩa giác tư y thư (2 quyển) biên soạn bằng quốc âm, trong đó có bản thảo 500 vị thuốc nam, viết bằng thơ Nôm Đường luật, và bài “Phú thuốc Nam” 630 vị cũng bằng chữ Nôm.
Câu nói của ông: “Nam dược trị Nam nhân” thể hiện quan điểm đầy biện chứng về mối quan hệ mật thiết giữa con người với môi trường sống xung quanh. Quan điểm ấy dẫn dắt ông lên ngôi vị cao nhất của nền y học cổ truyền Việt Nam: Ông Thánh thuốc Nam!
Tuệ Tĩnh đã không dừng lại ở vị trí một thầy thuốc chữa bệnh, ông còn tự mình truyền bá phương pháp vệ sinh, tổ chức cơ sở chữa bệnh trong nhà chùa và trong làng xóm. Có tài liệu cho biết, trong 30 năm hoạt động ở nông thôn, Tuệ Tĩnh đã xây dựng 24 ngôi chùa, biến các chùa này thành y xá chữa bệnh. Ông tập hợp nhiều y án: 182 chứng bệnh được chữa bằng 3.873 phương thuốc.
Tuệ Tĩnh xót thương cho số phận của mình và luôn đau đáu nỗi niềm một ngày được quay lại quê hương, thoát khỏi cảnh đất khách quê người thể hiện qua việc ông đã khóc trong lễ nhậm chức của mình tại triều đình nhà Minh và cho tới ngày nay, trên bia mộ của ông vẫn còn dòng chữ “Ai về nước Nam cho tôi về với”. Năm 1690 tiến sĩ Nguyễn Danh Nho đi sứ sang Trung Hoa, tình cờ thấy mộ Tuệ Tĩnh, nhận ra là người cùng làng. Cảm động với lời nhắn gửi thiết tha của vị danh y, tiến sĩ Nguyễn Danh Nho đã sao chép bia mộ và tạc khắc bia đá mang về quê Hải Dương bây giờ.
Uy viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ: Tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, sinh ngày mùng 1 tháng 11 năm Mậu Tuất 1778. Quê cha làng Uy Viễn Nghi Xuân, Hà Tĩnh, quê mẹ Xứ Đoài, Thăng Long, lại sinh ra ở Thái Bình, lớn lên bên dòng sông Lam, dưới chân Ngàn Hống. Nguyễn Công Trứ đã kết tinh những giá trị của văn minh châu thổ sông Hồng, văn hiến Kinh kỳ và văn hóa xứ Nghệ. Lớn lên trong một xã hội đầy biến động, ông đã sớm nuôi chí lớn, quyết tâm đem sức lực, trí tuệ và nhiệt huyết của mình để dâng hiến cho đất nước, cho nhân dân với khát vọng:
“Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông”

Trong suốt cuộc đời với gần 30 năm làm quan, trải qua 4 triều vua, 26 lần thăng giáng, hơn 50 lần đổi bổ, sai phái. Khi thăng lên đến Tổng đốc, Thượng thư, khi bị xử “trảm giam hậu”, rồi bị giáng hết mọi chức xuống làm lính thú. Song với bản lĩnh phi thường và lạc quan hiếm thấy, ông đã kiên cường vượt qua mọi hoạn nạn, tỏ rõ nhân cách thanh cao, đem hết tài năng phục vụ quốc gia, dân tộc. Khi làm Thượng thư không lấy làm vinh, khi làm lính thú không lấy làm nhục.
Là một vị quan thanh liêm, sống thanh bần, thích tự do, ngang tàng, ngạo nghễ ở đời. Là người văn võ toàn tài, Nguyễn Công Trứ không chỉ tinh thông thao lược, mà còn thấm nhuần đạo làm tướng. Ông xông pha trên mọi chiến trường, đánh dẹp từ bắc chí nam vì mục đích bảo quốc, an dân. Thấu hiểu nỗi thống khổ của nhân dân, những hậu quả lâu dài của thời hậu chiến, đồng thời nhận thấy những tiềm năng to lớn của vùng duyên hải Bắc Bộ, ông đã đề nghị triều đình cho phép được tập hợp cư dân khai khẩn các vùng đất hoang hóa.
Là nhà nho tài tử, tên tuổi của Nguyễn Công Trứ còn lưu danh hậu thế bằng tài văn chương đặc sắc, giàu trí nhân văn dân tộc qua một phong cách phóng túng và tài hoa. Là một người giỏi chữ Hán nhưng các sáng tác của ông đều bằng chữ Nôm và chủ yếu viết theo thể hát nói. Là người đã có công làm cho hát nói trở thành hoàn chỉnh, mở ra thời kỳ hưng thịnh cho nghệ thuật hát nói, ca trù của dân tộc Việt Nam.













