Ghép tạng Việt Nam: Thách thức từ nguồn hiến hạn chế
(PNTĐ) - Dù khởi đầu muộn hơn thế giới vài chục năm, sau hơn 30 năm hình thành và phát triển, ngành ghép tạng Việt Nam đã ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ cả về quy mô, trình độ kỹ thuật và hiệu quả điều trị. Từ một lĩnh vực non trẻ, ghép tạng đang dần trở thành một trong những trụ cột của y học chuyên sâu, mang lại cơ hội sống cho hàng nghìn bệnh nhân suy tạng giai đoạn cuối.

Gần 10.000 ca ghép, làm chủ nhiều kỹ thuật phức tạp
Theo thống kê của Trung tâm Điều phối Quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, kể từ ca ghép thận đầu tiên được thực hiện tại Học viện Quân y năm 1992, đến nay Việt Nam đã thực hiện gần 10.000 ca ghép tạng. Riêng giai đoạn 2022 - 2024, mỗi năm có trên 1.000 ca ghép được thực hiện tại 31 bệnh viện trên cả nước, đưa Việt Nam trở thành quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về số lượng ghép tạng.
Song song với sự gia tăng về quy mô, danh mục và mức độ phức tạp của các kỹ thuật ghép tạng tại Việt Nam cũng không ngừng được mở rộng. Đến nay, Việt Nam đã thực hiện ghép thành công 6 loại bộ phận cơ thể người gồm: Thận, gan, tim, phổi, ruột và tụy. Trong đó, ghép thận chiếm số lượng lớn nhất với 8.904 ca, tiếp theo là ghép gan 754 ca, 126 ca ghép tim, 13 ca ghép phổi, 3 ca ghép chi trên, 2 ca ghép ruột cùng hàng trăm ca ghép mô như giác mạc, da và tế bào gốc. Năm 2025, Việt Nam xác lập dấu mốc mới khi lần đầu tiên thực hiện thành công ca ghép đồng thời tim - phổi.
GS.TS.BS Phạm Gia Khánh - Chủ tịch Hội Ghép tạng Việt Nam cho biết: Với các tạng ghép phổ biến như thận, gan và tim, Việt Nam đã làm chủ hầu hết các kỹ thuật phức tạp đang được áp dụng trên thế giới. Riêng ghép gan - một trong những phẫu thuật khó nhất, Việt Nam đã triển khai thành công nhiều kỹ thuật chuyên sâu như ghép gan cho trẻ dưới 1 tuổi, người cao tuổi, ghép không cùng nhóm máu, ghép trong suy gan cấp, lấy - ghép gan bằng phẫu thuật nội soi và kỹ thuật chia gan.
Hiệu quả điều trị được phản ánh rõ nét qua các chỉ số: Tỷ lệ sống sau 1 năm của bệnh nhân ghép thận đạt khoảng 90 - 95%; ghép gan 80 - 90%; ghép tim 85 - 90%. Phần lớn người bệnh sau ghép có hòa hợp miễn dịch tốt, tái hòa nhập cuộc sống bình thường, đi học, đi làm và hạn chế nhập viện tái diễn. Đáng chú ý, nhiều trường hợp ghép thận duy trì chức năng trong cơ thể người bệnh tới 25 - 30 năm. Thậm chí có những bệnh nhân ghép thận mang thai và sinh con mà không còn cần tới máy lọc máu. Một số bệnh nhân được ghép từ năm 1992 đã sống gần 30 năm trước khi phải thực hiện ghép lại lần hai.
Bên cạnh đó, sự phát triển của ghép tạng Việt Nam còn hiện lên từ những ca hiến - ghép cụ thể trong thực tiễn điều trị. Thời gian gần đây, nhiều trường hợp hiến tạng sau chết não đã được ghi nhận tại các bệnh viện lớn, trong đó có cả nhân viên y tế, người lao động và những trường hợp người bệnh không qua khỏi do tai nạn.
Nhu cầu tăng nhanh nhưng nguồn hiến còn hạn chế
Những ca hiến tạng từ người chết não được ghi nhận trong thời gian gần đây cho thấy tín hiệu tích cực về nhận thức xã hội cũng như sự cải thiện trong tổ chức, điều phối hiến - ghép tạng. Tuy nhiên, đặt trong tương quan với nhu cầu ghép tạng ngày càng gia tăng, số trường hợp hiến tạng hiện nay vẫn còn ở mức thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của công tác điều trị. Theo thống kê, năm 2025, Việt Nam ghi nhận 64 trường hợp hiến tạng từ người chết não - con số cao nhất từ trước tới nay. Dù vậy, các chuyên gia cho rằng, kết quả này mới chỉ là bước tiến ban đầu, trong khi khoảng cách giữa nhu cầu ghép và nguồn tạng hiến vẫn còn rất lớn.
PGS.TS Đồng Văn Hệ - Giám đốc Trung tâm Điều phối Quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người cho rằng, xã hội hiện nay thường chú ý nhiều đến các ca ghép thành công, trong khi hoạt động hiến tạng - nền tảng của toàn bộ hệ thống ghép tạng lại chưa nhận được sự quan tâm tương xứng. Nhiều khâu then chốt như phát hiện người chết não tiềm năng hiến, tư vấn và chăm sóc gia đình người hiến, hay điều phối hệ thống hiện vẫn chưa có cơ chế tài chính chi trả rõ ràng, trong khi đây là những công việc đòi hỏi nhiều nguồn lực và trách nhiệm nghề nghiệp.
TS.BS Hà Anh Đức - Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) cũng thẳng thắn chỉ ra rằng, công tác vận động hiến tạng tại Việt Nam vẫn còn nhiều rào cản về nhận thức, pháp lý và tổ chức thực hiện.
TS.BS Phạm Gia Anh - Phó Giám đốc Trung tâm Điều phối Quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người nhận định, ngành hiến - ghép tạng Việt Nam không thể chỉ dựa vào nguồn hiến từ người sống, mà cần chuyển trọng tâm sang phát triển hiến tạng từ người chết não và ngừng tuần hoàn.
Thực tế cho thấy, năng lực tiếp nhận và triển khai ghép tạng cũng đang có những giới hạn nhất định. Hiện cả nước mới có 31 cơ sở đủ điều kiện thực hiện ghép tạng, chủ yếu tập trung tại các bệnh viện tuyến Trung ương và một số bệnh viện công lập lớn. Con số này chưa đáp ứng được nhu cầu điều trị của bệnh nhân suy tạng giai đoạn cuối, trong bối cảnh nhiều cơ sở y tế thường xuyên quá tải, thời gian chờ ghép kéo dài khiến không ít người bệnh suy kiệt hoặc tử vong trước khi có tạng phù hợp.
Trước thực trạng đó, các chuyên gia cho rằng, việc mở rộng mạng lưới các bệnh viện tham gia hiến - ghép tạng, bao gồm cả các bệnh viện tư nhân được đầu tư bài bản, tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật và chịu sự quản lý chặt chẽ của Bộ Y tế, sẽ góp phần giảm áp lực cho hệ thống công lập và nâng cao khả năng tiếp cận ghép tạng của người bệnh. Song song với đó, Bộ Y tế đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác, dự kiến trình Quốc hội vào tháng 10/2026, nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho lĩnh vực này.
Những thành tựu về kỹ thuật ghép tạng trong thời gian qua đã khẳng định năng lực chuyên môn của y học Việt Nam trong lĩnh vực y học chuyên sâu. Tuy nhiên, để chương trình ghép tạng phát triển bền vững, cần có sự song hành giữa năng lực ghép và một hệ thống hiến tạng đủ mạnh, được tổ chức bài bản, minh bạch và đầu tư tương xứng. Việc tăng cường truyền thông, hoàn thiện chính sách, đào tạo đội ngũ điều phối viên hiến tạng và mở rộng mạng lưới cơ sở tham gia hiến - ghép được xem là những yếu tố then chốt nhằm bảo đảm tính công bằng, hiệu quả và nhân văn của hoạt động ghép tạng trong thời gian tới.












