Nguy kịch vì... kháng thuốc kháng sinh

Chia sẻ

Kháng kháng sinh hiện đang là vấn đề nhức nhối của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tại bệnh viện Bạch Mai, trong một năm gần đây ghi nhận 40-60% trường hợp bệnh nhân chuyển lên tuyến trên có tình trạng kháng kháng sinh.

Bác sĩ bệnh viện Bạch Mai thăm khám cho một trường hợp bệnh nhân nguy kịch vì kháng kháng sinh.Bác sĩ bệnh viện Bạch Mai thăm khám cho một trường hợp bệnh nhân nguy kịch vì kháng kháng sinh. (Ảnh: BVCC)

Báo động tình trạng kháng kháng sinh tăng cao mỗi năm

PGS.TS Nguyễn Văn Chi - Phụ trách khoa Cấp cứu A9 (bệnh viện Bạch Mai) cho biết: Hiện tình trạng kháng kháng sinh đang tăng cao một cách đáng báo động theo từng năm và ghi nhận ở nhiều tuyến y tế từ cơ sở đến trung ương. Những năm trước, tỷ lệ bệnh nhân kháng kháng sinh từ tuyến dưới chỉ gặp vài ca, nhưng đến nay, nhiều ca chuyển từ tuyến dưới lên bệnh viện Bạch Mai khi được cấy vi khuẩn ngay từ lúc vừa mới tiếp nhận đã phát hiện vi khuẩn kháng thuốc.

“Đây là một thực trạng đáng buồn. Nhiều bệnh nhân vào viện vì một bệnh khác nhưng nhiễm trùng tăng lên nhanh, gặp vi trùng kháng kháng sinh khiến tính mạng bị đe dọa, thậm chí tử vong do nhiễm trùng chứ không phải do bệnh lý lúc bệnh nhân nhập viện” - PGS.TS Chi nói.

WHO đưa Việt Nam vào nhóm các nước có tỷ lệ kháng kháng sinh cao trên thế giới. Trong khi nhiều quốc gia phát triển sử dụng kháng sinh thế hệ một vẫn hiệu quả thì Việt Nam đã phải dùng tới thế hệ 3 và 4. Một nghiên cứu cho thấy, 88 - 97% các cửa hàng bán thuốc, đặc biệt ở nông thôn vẫn kê kháng sinh mà không có đơn thuốc của bác sĩ, mặc dù điều này đã bị cấm theo luật pháp Việt Nam. Kháng sinh cũng chiếm hơn 50% các thuốc dùng cho người và thông thường được bán tại các nhà thuốc cộng đồng.

Đơn cử trường hợp nam bệnh nhân (71 tuổi, ở Ninh Bình), có tiền sử đái tháo đường, gút đang điều trị tại khoa Cấp cứu A9 (bệnh viện Bạch Mai) trong tình trạng khá nguy kịch, phải thở máy và sử dụng thuốc vận mạch hỗ trợ. BS Nguyễn Hữu Quân - khoa Cấp cứu A9 cho biết: Khi ở bệnh viện tuyến dưới, bệnh nhân đã được dùng kháng sinh mạnh nhưng tình trạng nhiễm trùng không cải thiện.

Tại bệnh viện Bạch Mai, các bác sĩ phải làm kỹ thuật đặc biệt định danh vi khuẩn. “Bệnh nhân nhiễm trùng nặng, viêm phổi, phụ thuộc máy thở nên chúng tôi đã lấy đờm bệnh nhân ra cấy xem có vi trùng kháng thuốc không. Đồng thời, chúng tôi cũng sử dụng kỹ thuật cao hơn như PCR đa mồi để tìm các mầm bệnh từ phổi. Sau đó đánh giá xem kháng sinh nào có thể giá trị cho bệnh nhân này”, bác sĩ Quân nói.

Hành động ngay hôm nay

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng kháng kháng sinh ở người bệnh, nhưng quan trọng nhất là do thói quen sử dụng thuốc của người dân. Theo đó, khi ho, sốt, hay có vấn đề bất ổn về sức khỏe, nhiều người vẫn tự ý ra hàng thuốc đề nghị bán kháng sinh. Đồng thời, người dân vẫn có thể mua kháng sinh theo ý muốn một cách dễ dàng tại các quầy thuốc, nhà thuốc tư nhân.

Như tại nhà thuốc Hoàng Minh trên phố Trần Quốc Hoàn, khi khách hàng hỏi về thuốc kháng sinh nhãn hiệu Zinnat, người bán chỉ hỏi các triệu chứng bệnh, tư vấn về giá thành loại thuốc nội và nhập ngoại… chứ không hỏi hay yêu cầu người mua cung cấp đơn thuốc của bác sĩ. Hay tại một cửa hàng thuốc trên phố Thái Thịnh, chỉ cần người mua kể các triệu chứng: viêm họng, ho dai dẳng nhiều ngày… lập tức được người bán “kê đơn” cho kháng sinh về uống.

Trong khi đó, thói quen tự dùng kháng sinh gây rất nhiều nguy hại cho chính người bệnh. PGS.TS Nguyễn Văn Chi cho hay: Nếu người dân, đặc biệt người có bệnh mạn tính dùng kháng sinh không đúng, không theo đơn… sẽ tạo cơ hội cho vi khuẩn kháng thuốc. Điều này cũng gây khó khăn cho bác sĩ vì phải lựa chọn kháng sinh phù hợp khi những loại kháng sinh đã dùng rồi thường không dùng được nữa, phải dùng thuốc đắt tiền hơn, chi phí cao hơn, phối hợp nhiều loại thuốc. Cơ hội và tiên lượng cho người bệnh vì thế cũng bị ảnh hưởng, nguy cơ tử vong tăng lên so với nhóm bệnh nhân không kháng kháng sinh. “Mỗi người đều có vai trò của mình trong cuộc chiến chống kháng kháng sinh. Nếu không hành động ngay hôm nay, ngày mai người bệnh có thể sẽ không có thuốc chữa” -PGS.TS Chi nhấn mạnh.

Theo đó, các bác sĩ khuyến cáo người dân không tự ý mua và dùng kháng sinh khi chưa có ý kiến hay đơn kê của bác sĩ điều trị. Khi được bác sĩ kê đơn có thuốc kháng sinh, người bệnh cần uống đủ liều lượng đã được kê, không bỏ dở nửa chừng, ngay cả khi cảm thấy bệnh đã đỡ nhiều; không dùng thuốc kháng sinh thừa từ lần sử dụng trước; không chia sẻ thuốc kháng sinh trong toa thuốc đang dùng cho người khác uống, ngay cả khi đó là người thân của mình, vì khi chia sẻ, sẽ thiếu liều thuốc cần uống và vô tình tạo cơ hội cho vi khuẩn mạnh mẽ lên và kháng lại các thuốc điều trị. Điều này gây nguy hiểm cho chính bản thân, cho gia đình và cộng đồng.

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần siết chặt quản lý, có chế tài xử phạt nặng những cơ sở y tế bán kháng kháng sinh không kê đơn; đảm bảo các nhà thuốc thực hiện đúng chủ trương theo “Đề án Tăng cường kiểm soát kê đơn thuốc và bán thuốc kê đơn giai đoạn 2017-2020” của Bộ Y tế.

Thảo Hương 

Tin cùng chuyên mục

Hệ lụy tàn khốc từ bóng cười: Khi ảo giác dẫn lối đến xe lăn

Hệ lụy tàn khốc từ bóng cười: Khi ảo giác dẫn lối đến xe lăn

(PNTĐ) - Không chỉ gây nghiện, bóng cười (khí N2O) đang trực tiếp tàn phá hệ thần kinh và tâm thần của một bộ phận lớn giới trẻ. Những bệnh nhân nhập viện trong tình trạng thoái hóa tủy sống, yếu liệt phải ngồi xe lăn hay loạn thần dai dẳng là minh chứng rõ nhất cho độc tính của loại khí này. Dưới đây là những cảnh báo và phân tích chuyên môn từ các bác sĩ Viện Sức khỏe tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai.
Khởi động dự án “Cộng đồng hạnh phúc”, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe sinh sản và cải thiện tình trạng hiếm muộn

Khởi động dự án “Cộng đồng hạnh phúc”, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe sinh sản và cải thiện tình trạng hiếm muộn

(PNTĐ) - Trong bối cảnh tỷ lệ vô sinh - hiếm muộn có xu hướng gia tăng, trong khi mức sinh tại Việt Nam đang ở mức thấp, nhu cầu được tiếp cận thông tin y khoa chính xác, tư vấn sớm và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản toàn diện ngày càng trở nên cấp thiết. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều người dân vẫn gặp rào cản về kiến thức, tâm lý và khả năng tiếp cận y tế chuyên khoa, đặc biệt tại các khu vực ngoài đô thị lớn, khiến việc phát hiện và can thiệp sớm còn nhiều hạn chế.