Phòng bệnh viêm đường hô hấp cho trẻ

BS.CKII Lâm Hoàng Yến (Khoa Tai mũi họng, Bệnh viện Nhân dân 115)
Chia sẻ

(PNTĐ) - Nhiễm khuẩn tai mũi họng là một trong những bệnh lý phổ biến ở trẻ em. Đây cũng là nguyên nhân hàng hàng đầu dẫn đến nhiễm trùng đường hô hấp và các biến chứng như viêm phổi, viêm tim, viêm não, suy hô hấp...

Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới, nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính là nguyên nhân gây ra gần 20% tổng số ca tử vong cho trẻ em dưới 5 tuổi.

Tai, mũi và họng là những cơ quan có cấu trúc, cơ chế hoạt động phức tạp và có liên quan đến nhau. Do vị trí cửa ngõ của đường hô hấp, tai mũi họng là bộ phận tiếp xúc trực tiếp với không khí và thức ăn hàng ngày, đồng thời với cả các tác nhân gây bệnh như khói bụi, vi khuẩn, virus.

Các bệnh nhiễm khuẩn tai mũi họng phổ biến thường gặp: Viêm mũi họng cấp, viêm Amidan, viêm tai giữa, viêm mũi xoang… Nhiễm trùng tai mũi họng phổ biến ở đối tượng trẻ em và thường xuyên tái phát nhiều lần. Nếu không được điều trị dứt điểm, chúng có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm như viêm phổi, viêm cầu thận, viêm màng não, viêm xương chũm, biến chứng nội sọ...

Nguyên nhân khiến trẻ mắc viêm đường hô hấp

Khiếm khuyết trong hệ thống miễn dịch: Theo các nghiên cứu, trẻ em trong độ tuổi dưới 12 tuổi có nguy cơ cao nhiễm trùng do sự chưa hoàn thiện hệ thống miễn dịch. Các khiếm khuyết trong hệ thống miễn dịch có liên quan đến viêm đường hô hấp thường xuyên. Nghiên cứu đã được chứng minh rằng 57% trẻ em bị viêm đường hô hấp tái phát (ít nhất ba đợt một năm trong ít nhất 2 năm) bị thiếu một trong các kháng thể IgG và 17% bị thiếu IgA.

Thiếu kháng thể IgG khá nổi bật ở trẻ nhỏ, cho thấy sự non nớt của hệ thống miễn dịch và là một trong những yếu tố có thể gây bệnh. Các khiếm khuyết trong hệ thống miễn dịch và thiếu hụt IgA được biết là có liên quan đến nhiễm trùng đường hô hấp thường xuyên do vi khuẩn và vi rút gây ra.

Ảnh hưởng của môi trường bên ngoài: Môi trường ô nhiễm, khí hậu thay đổi cộng thêm những tổn thương do Covid-19 làm suy giảm chức năng hô hấp và tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng tai mũi họng.

Phòng bệnh viêm đường hô hấp cho trẻ - ảnh 1
Ảnh minh họa

Phòng ngừa, điều trị như thế nào?

Hiện nay, biện pháp điều trị nhiễm khuẩn tai mũi họng phổ biến là điều trị triệu chứng và sử dụng kháng sinh nếu nguyên nhân gây bệnh là vi khuẩn. Đa phần bệnh lý nhiễm khuẩn tai mũi họng, nguyên nhân chủ yếu là do virus. Trong trường hợp này, việc lựa chọn điều trị bằng kháng sinh hoàn toàn không có hiệu quả. Còn đối với nguyên nhân là vi khuẩn hiện nay mới chỉ có phế cầu là có vắc-xin đặc hiệu, đây cũng là loại vi khuẩn gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm.

Vắc-xin có vai trò quan trọng phòng ngừa nhiễm khuẩn tai mũi họng ở trẻ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều loại vi khuẩn gây bệnh tai mũi họng mà chưa có vắc-xin đặc hiệu như Klebsiella pneumoniae, Staphylococcus aureus, Streptococcus pyogene. Đối với những chủng vi khuẩn này, ly giải vi khuẩn sẽ là giải pháp hữu hiệu giúp cơ thể nâng cao khả năng phòng thủ.

Ly vi khuẩn được tạo thành bởi một hỗn hợp các kháng nguyên vi khuẩn có nguồn gốc từ các loài vi khuẩn khác nhau thường gây ra bệnh lý tai mũi họng. Các loài thường được bao gồm: Staphylococcus aureus, Streptococcus pyogenes, Klebsiella pneumoniae... Mỗi chiết xuất được chuẩn bị với hàng tỷ vi khuẩn này.

Cùng với ly giải vi khuẩn, vitamin C cũng được biết đến với tác dụng kháng khuẩn và điều hòa miễn dịch. Một thử nghiệm liên quan đến việc bổ sung vitamin C đã được thực hiện trên đối tượng nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính (viêm phế quản và viêm phế quản phổi). Việc bổ sung vitamin C đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể bạch cầu ngay cả khi có nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính. Những bệnh nhân được bổ sung vitamin tốt hơn đáng kể so với những bệnh nhân dùng giả dược

Bổ sung ly giải vi khuẩn và vitamin C được cho là có tác dụng hiệp đồng đem lại lợi ích trong việc phòng ngừa bệnh lý đường hô hấp hiệu quả. Nghiên cứu tiến hành năm 2005 tại Séc cho thấy, việc bổ sung chế phẩm GS Imunostim Junior với thành phần gồm ly giải vi khuẩn kết hợp với vitamin C có tác dụng làm giảm hơn 50% tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp cấp. 93% người tham gia nghiên cứu thấy hiệu quả sau một liệu trình sử dụng sản phẩm.

Ý kiến bạn đọc

Tin cùng chuyên mục

Bóc tách khối u 18cm, bảo tồn thiên chức làm mẹ cho sản phụ ung thư

Bóc tách khối u 18cm, bảo tồn thiên chức làm mẹ cho sản phụ ung thư

(PNTĐ) - Ngày 10/2, ê-kíp bác sĩ Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội phối hợp cùng chuyên gia Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội đã thực hiện thành công ca phẫu thuật lấy thai và bóc tách khối u buồng trứng kích thước 18cm cho một sản phụ ung thư, đồng thời bảo tồn tử cung để duy trì khả năng sinh sản.
Đốt sóng cao tần - giải pháp bảo tồn tử cung cho phụ nữ mắc u xơ, lạc nội mạc tử cung

Đốt sóng cao tần - giải pháp bảo tồn tử cung cho phụ nữ mắc u xơ, lạc nội mạc tử cung

(PNTĐ) - Trong điều trị các bệnh lý tử cung, đặc biệt là u xơ tử cung và lạc nội mạc tử cung, mong muốn lớn nhất của nhiều phụ nữ không chỉ là khỏi bệnh mà còn là giữ lại tử cung, bảo tồn khả năng sinh sản. Thấu hiểu nhu cầu chính đáng đó, những năm gần đây, y học hiện đại đã không ngừng nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp điều trị ít xâm lấn, trong đó đốt sóng cao tần (RFA) đang được đánh giá là một bước tiến quan trọng.
Bệnh viện Phụ sản Trung ương: Phiên chợ “0 đồng” mang Tết ấm đến người bệnh

Bệnh viện Phụ sản Trung ương: Phiên chợ “0 đồng” mang Tết ấm đến người bệnh

(PNTĐ) - Trong không khí rộn ràng của những ngày cuối năm, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương đã tổ chức chương trình “Xuân ấm áp – Tết nghĩa tình”, gửi gắm những lời chúc năm mới an lành, yêu thương tới người bệnh đang điều trị nội trú, đồng thời động viên đội ngũ thầy thuốc, nhân viên y tế của bệnh viện.
Hợp tác y tế nhằm thay đổi cách tiếp cận sa sút trí tuệ ở người cao tuổi Việt Nam

Hợp tác y tế nhằm thay đổi cách tiếp cận sa sút trí tuệ ở người cao tuổi Việt Nam

(PNTĐ) - Sa sút trí tuệ và Alzheimer đang trở thành một trong những thách thức y tế – xã hội lớn nhất trong bối cảnh Việt Nam già hóa dân số nhanh. Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, đặc biệt là xét nghiệm chỉ dấu sinh học trong máu, được kỳ vọng sẽ giúp chuyển dịch từ chẩn đoán muộn sang phát hiện sớm, chủ động quản lý và chăm sóc hiệu quả người cao tuổi.