“Hiệu quả của phương pháp công nghệ giáo dục cần được kiểm chứng bằng khoa học”

Chia sẻ

PNTĐ-Những ngày qua, công chúng quan tâm đặc biệt về cách dạy - học đánh vần tiếng Việt, báo Phụ nữ Thủ đô đã phỏng vấn GS.TS Nguyễn Văn Lợi xung quanh đề tài nóng này.

 
Những ngày qua, công chúng quan tâm đặc biệt về cách dạy - học đánh vần tiếng Việt, đặc biệt là liên quan tới công nghệ giáo dục của GS Hồ Ngọc Đại. Để có thêm cái nhìn đa chiều, phóng viên báo Phụ nữ Thủ đô đã phỏng vấn GS.TS Nguyễn Văn Lợi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học, chuyên gia hàng đầu về ngữ âm học, ngữ âm học bệnh học, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, xung quanh đề tài nóng trên:
 
“Hiệu quả của phương pháp công nghệ giáo dục cần được kiểm chứng bằng khoa học” - ảnh 1
GS.TS Nguyễn Văn Lợi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học

 
Vừa qua, trước nhiều ý kiến chỉ trích dành cho mình, GS Hồ Ngọc Đại đã khẳng định phương pháp dạy - học đánh vần tiếng Việt theo chương trình Công nghệ giáo dục (CNGD) được dựa trên cơ sở khoa học. Vậy, cũng từ góc độ khoa học, theo GS, lời phát biểu trên của GS Đại có căn cứ không?
 
Theo GS Hồ Ngọc Đại, cách dạy đánh vần của ông dựa trên thành tựu nghiên cứu 300 năm ngữ âm tiếng Việt, tức là tính từ khi chữ Quốc ngữ ra đời năm 1651 đến năm 1977. Thật ra, tri thức về ngữ âm tiếng Việt đã có từ trước khi chữ Quốc ngữ ra đời. Đó là tri thức của người Việt vận dụng âm vận học Trung Hoa để tìm hiểu về thi luật tiếng Việt. Tuy nhiên, sách dạy đánh vần CNGD ra đời đến nay đã 40 năm. Trong khoảng thời gian đó, nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt cũng đã có nhiều thành tựu.
 
Chẳng hạn, hàng nghìn năm trước, chúng ta quan niệm thanh điệu tiếng Việt là cao độ (đường nét, bằng trắc, phù trầm, cao thấp). Tuy nhiên, cách đây 10 năm, Andrea Phạm Hòa, một chuyên gia ngôn ngữ người Việt ở Mỹ đã công bố công trình nghiên cứu của mình rằng thanh điệu tiêng Việt không phải cao độ và những kết luận này đến nay vẫn là đề tài được các nhà khoa học tranh luận. 
 
Như vậy, có thể thấy, một phương pháp ra đời từ 40 năm dù dựa trên một thành tựu nghiên cứu cũng có thể đã trở nên lạc hậu so với bối cảnh hiện nay, khi mà các nghiên cứu ngữ âm liên tục phát triển. 
 
Nhiều ý kiến cho rằng, trẻ em vào lớp 1 chỉ sau vài tháng là có thể biết đọc, viết. Vậy, tại sao chúng ta phải “đau đầu” tìm cách cải tiến cách dạy - học đánh vần tiếng Việt mà không cố định phương pháp truyền thống đã có?
 
Đúng là trẻ em sau vài ba tháng học đánh vần có thể biết đọc biết viết, tức là biết chữ. Tuy nhiên, trên thực tế, tùy thuộc vào người học mà khả năng đọc, khả năng nói/viết đúng các quy định chính âm, chính tả cũng khác nhau. Tùy theo phương ngữ, một số lỗi sai chính tả, hoặc lỗi phát âm (ví dụ, lỗi phát âm sai L/N) có thể bám theo nhiều người, ngay cả khi đã trưởng thành về tuổi tác và học vấn. Học đánh vần ở giai đoạn đầu trong quá trình rèn các kĩ năng nghe nói rất quan trọng, bởi vì, việc hình thành, ổn định và cố định các kĩ năng ngôn ngữ xảy ra trước 10 tuổi. Do đó, không thể coi việc trẻ biết đọc, biết viết là đủ mà cần tìm ra phương pháp hiệu quả giúp trẻ đọc, viết đúng ngay từ giai đoạn đầu đi học.
 
GS nhận định như thế nào về phương pháp “vuông, tròn” của CNGD đã gây bão cộng đồng mạng những ngày qua?  
 
Khác cách dạy trẻ em Trung Quốc viết chữ Hán, việc dạy trẻ em nhận diện và phân biệt các âm tiết tiếng Việt bằng các hình khối, theo tôi, là không hợp lí. Âm tiết tiếng Việt, về mặt ngữ âm (sinh lí phát âm và âm học) cũng như âm vị học (trong tâm thức người Việt) không phải là các khối hình độc lập, không chia cắt. Về chữ viết, chữ Hán và chữ Việt khác nhau về bản chất. Chữ Hán là chữ tượng hình, gồm các bộ, nét, sắp xếp phi tuyến tính trong một ô vuông. Chữ Việt là chữ ghi âm, ghi âm tố, các kí tự sắp xếp tuyến tính (chia cắt trong thời gian).
 
Theo cách dạy đánh vần truyền thống hiện nay, chúng ta đi từ tư duy cụ thể đến trừu tượng, hay nói dễ hiểu hơn là đi từ chữ đến âm. Tôi xin lấy một ví dụ, trẻ em Việt Nam từ 2-3 tuổi đã tập ăn bằng đũa. Cách dùng đũa ăn cơm, về mặt vật lí là sự áp dụng các quy tắc của lí thuyết đòn bẩy. Tuy nhiên, không ai dạy trẻ em dùng đũa và cơm lại bắt đầu từ các khái niệm vật lí như cánh tay đòn, lực tác động, điểm tựa. Trẻ cứ học dùng đũa đã rồi đến khi đủ lớn, các em sẽ được học nguyên lý sau. 
 
Trong khi đó, CNGD của GS Hồ Ngọc Đại dạy học sinh đi từ trừu tượng đến cụ thể, tức là từ các khái niệm âm vị học, sự phân biệt âm (vật thật) và chữ (vật thay thế) đến các chữ cụ thể. Tuy nhiên, với một trẻ 6 tuổi (hệ thống ngữ âm - âm vị học, vốn từ vựng, quy tắc ngữ pháp chưa phát triển đầy đủ) và cả người lớn không có hiểu biết về ngữ âm - âm vị học, việc dạy đánh vần bắt đầu bằng các khái niệm ngữ âm - âm vị học không dễ. Do đó, người biên soạn phải giải thích các khái niệm, thuật ngữ trừu tượng bằng các khái niệm, thuật ngữ thông thường, dẫn tới sách mắc nhiều lỗi.
 
Cụ thể, theo GS, đó là những lỗi sai như thế nào? 
 
Chẳng hạn, trong cuốn tài liệu hướng dẫn cha mẹ chuẩn bị cho con vào lớp 1 theo chương trình CNGD, nhóm tác giả đã nhầm lẫn giữa âm và chữ, giữa âm là phụ âm với vần, giữa  tiếng (âm tiết) với vần (bộ phận sau âm đầu của âm tiết). Ví dụ trong Bảng âm vần, cột ghi là Vần, nhưng lại liệt kê kí tự ghi âm đầu GI, kí tự ghi nguyên âm chính âm là nguyên âm đôi YÊ, YA, UÔ, ƯƠ (luôn xuất hiện trước âm cuối, tức là trong thực tế không có các vần trên độc lập). 
 
Cũng theo cách dạy này, học sinh sẽ không thể phát âm đúng các nguyên âm đôi, chẳng hạn QUA và CUA. Sự khác biệt giữa 2 âm tiết ở chỗ, trong QUA, kí tự U để ghi âm đệm, còn trong CUA, chữ U để ghi yếu tố thứ nhất của nguyên âm đôi. Trong trường hợp này, ngoài sự nhầm lẫn giá trị âm vị học với biểu hiện chữ viết, còn có sự lẫn lộn giữa con chữ và kí tự: con chữ U trong kí tự UA, và kí tự U để ghi âm đệm.
 
Tương tự, nhóm tác giả hướng dẫn cha mẹ học sinh đọc các tiếng Dơ thì nhẹ; tiếng GIƠ thì nặng; tiếng Rô thì rung lưỡi. Ở đây các tác giả lẫn khái niệm âm tố, âm vị (phụ âm đầu) cấu tạo nên âm tiết (tiếng) với khái niệm tiếng (âm tiết). Cha mẹ học sinh liệu có thể biết đọc thế nào là nhẹ, thế nào là nặng? Còn có nhiều lỗi tương tự về sự lẫn giữa âm và chữ, âm và vần, vần và tiếng mà tôi không kể ra hết.
 
Được biết, tài liệu trên đã được Hội đồng thẩm định quốc gia với sự tham gia của các chuyên gia ngữ âm học xem xét, thẩm định. Chúng tôi rất tiếc tại sao sau 2 vòng thẩm định, HĐ bỏ qua những hạt sạn này.
 
Như vậy, theo GS, trong bối cảnh hiện nay, chúng ta nên áp dụng phương pháp dạy - học đánh vần nào? 
 
Chữ Quốc ngữ là chữ ghi âm, âm tố, không cần thiết phải cải tiến thay đổi bảng chữ cái của chữ Quốc ngữ. Theo tôi, việc dạy đánh vần chữ Quốc ngữ vẫn nên theo mô hình truyền thống đang được áp dụng lâu nay, tức là đi từ các đơn vị chữ/âm tố cụ thể đến cách ghép các kí tự/âm tố thành Vần, Âm tiết; Phương pháp này dễ tiếp thu với học sinh, phụ huynh và cả các thầy cô giáo vốn không có kiến thức sâu về ngữ âm-âm vị học. 
 
Với phương pháp của CNGD, các tác giả nói rằng, sách tiếng Việt CNGD dạy cho học sinh học rất hiệu quả, không viết sai chính tả. Điều này cần được chứng minh bằng khảo nghiệm một cách khoa học, khách quan. 
 
Xin cảm ơn GS!
 
 
Trung Thu (thực hiện)

Tin cùng chuyên mục

Đại học Bách khoa Hà Nội tiếp tục duy trì 3 phương thức tuyển sinh

Đại học Bách khoa Hà Nội tiếp tục duy trì 3 phương thức tuyển sinh

(PNTĐ) -  Sáng ngày 25/2, Đại học Bách khoa Hà Nội công bố Thông tin tuyển sinh Đại học chính quy năm 2026. Cụ thể, trường tiếp tục giữ vững định hướng tuyển sinh ổn định, minh bạch và đa dạng hóa cơ hội tiếp cận cho thí sinh trên toàn quốc. Tổng chỉ tiêu tuyển sinh đại học chính quy năm 2026 dự kiến là 9.880 sinh viên, với 3 phương thức tuyển sinh được duy trì như các năm trước.
Trường học Thủ đô giữ vững an toàn trong kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026

Trường học Thủ đô giữ vững an toàn trong kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026

(PNTĐ) - Trong kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, các cơ sở giáo dục trên địa bàn Thủ đô Hà Nội đã chủ động triển khai nhiều giải pháp để bảo đảm an toàn tuyệt đối về con người, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học. Các đơn vị thực hiện nghiêm túc chỉ đạo từ Trung ương đến thành phố, duy trì chế độ trực, ứng trực 24/7, phối hợp chặt chẽ với lực lượng chức năng nhằm tạo môi trường an toàn, ổn định trong suốt thời gian nghỉ lễ.