Giữ tài riêng khi kết hôn như thế nào?
6 năm nay, tôi vay vốn ngân hàng hùn vốn mở cửa hàng kinh doanh điện thoại di động với một người bạn. Bây giờ, tôi sở hữu cổ phần trị giá gần 400 triệu đồng từ cửa hàng ấy. Ngoài ra, hàng tháng lợi nhuận tôi được chia gần 30 triệu đồng/ tháng. Sắp tới, tôi chuẩn bị lấy vợ. Tôi muốn hỏi Quý báo, sau khi kết hôn, tôi muốn giữ số cổ phần kinh doanh và lợi nhuận thu về hàng tháng làm tài sản riêng của mình có được không? Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của vợ chồng được pháp luật quy định như thế nào?
Lê Đình Hòa (Hà Đông, Hà Nội)
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật Hôn nhân và Gia đình; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
ảnh minh họa
Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng được xem là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ vào quy định nêu trên, số cổ phần trị giá gần 400 triệu đồng là tài sản bạn tích lũy được trước khi kết hôn, vì vậy đó là tài sản riêng của bạn.
Theo Điều 44 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng được quy định như sau:
Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.
Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.
Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.
Như vậy, đối với số cổ phần trị giá gần 400 triệu đồng là tài sản riêng của bạn có được trước khi kết hôn, bạn có thể nhập hoặc không nhập vào tài sản chung là do bạn tự quyết định.
Riêng số lợi nhuận thu về mỗi tháng gần 30 triệu đồng được xem là nguồn thu nhập và là nguồn sống duy nhất của vợ chồng bạn sau khi kết hôn thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của vợ bạn. Trong trường hợp, bạn vẫn có lương, khoản thu nhập khác để duy trì nguồn sống cho gia đình, vợ bạn cũng có thu nhập ổn định thì việc nhập số lợi nhuận này thành của chung hay vẫn là giữ làm của riêng của bạn là do bạn quyết định. Tuy nhiên, trong cuộc sống hôn nhân, việc xác lập tài sản riêng ngoài yếu tố “lý” ra vẫn còn cần yếu tố “tình” bên cạnh. Nếu không thuận lý thuận tình, việc xác lập tài sản riêng trong hôn nhân dễ ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng, hạnh phúc khó bền vững.
Báo PNTĐ









