Xử lý nạn hàng giả, hàng nhái trên mạng: “Bó tay” vì thiếu chế tài?
PNTĐ-Tình trạng bán hàng giả, hàng nhái trên mạng không những không được đẩy lùi mà ngày càng “hoành hành” và diễn biến phức tạp hơn.
![]() |
| Những trang web bán hàng giả, hàng nhái vẫn đang hoạt động công khai |
Hàng nhái bán công khai
Những người sành hàng hiệu đều biết rằng một chiếc túi xách Boy Chanel chính hãng phải có giá bằng một chiếc xe máy, khoảng 2.500 USD (tương đương với 50.000.000 VNĐ). Thế mà, lướt qua các gian hàng điện tử, chúng tôi vô cùng ngạc nhiên khi một chiếc túi như vậy được chủ nhân một website chào bán với giá chỉ bằng… 1/20, ở mức là 550.000 VNĐ. Để biết sản phẩm này là hàng đã qua sử dụng, hàng khuyến mại hay hàng giả mà lại có mức giá không thể tin như thế, chúng tôi gọi điện theo số hotline để lại trên trang web và ngỏ ý muốn mua.
Người bán hàng hồ hởi giới thiệu đây là túi xách fake 1 (hàng nhái loại 1 – PV), chất lượng và hình dáng không khác gì hàng chính hãng, đảm bảo khi dùng sẽ không ai nhận ra hàng giả. Để sở hữu chiếc túi giống y chang hàng hiệu mà giá rẻ đến bất ngờ như vậy, điều kiện chủ hàng đưa ra cũng rất ngặt nghèo. Khách có thể chuyển tiền thanh toán qua tài khoản trước hoặc ngay khi giao hàng nhưng không được xem hàng trước và khi đã nhận được hàng thì không được đổi hoặc trả lại
Thiếu chế tài mạnh
Hàng giả, hàng nhái bán công khai trên mạng đang là cái “bẫy” với người tiêu dùng. Nhiều chị em vì ham của rẻ đã phải ấm ức chịu thiệt vì hàng nhái kém chất lượng, chỉ dùng vài tuần là hỏng, bỏ đi. Thế nhưng, hiện tượng này mới chỉ dừng lại ở sự cảnh báo, việc xử lý dứt điểm là khó khăn bởi chưa có quy định cũng như các hướng dẫn cụ thể để xác định những hành vi nào được xem là hành vi xâm phạm nhãn hiệu trên mạng internet.
Thông thường, khi xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu trong môi trường thương mại điện tử, các cơ quan chức năng sẽ vận dụng những quy định chung của pháp luật Sở hữu trí tuệ (chủ yếu áp dụng cho thị trường truyền thống). Điều này dẫn đến tình trạng với một thông tin chào bán sản phẩm không rõ ràng nhằm che giấu cho hành vi gian lận như ở trên, nếu chỉ áp dụng các quy định chung trước đây thì không thể xác định được đó có phải là hành vi xâm phạm nhãn hiệu trên mạng internet hay không. Chưa kể, việc xử lý càng trở nên khó khăn hơn khi mà chủ nhân của các website bán hàng nhái, hàng giả không cư trú ở Việt Nam hoặc đăng ký theo nhà mạng ở nước ngoài.
Chúng ta chỉ có thể gửi thông báo yêu cầu loại bỏ yếu tố vi phạm trên website chứ không thể áp dụng các biện pháp để trực tiếp gỡ bỏ hoặc chấm dứt sử dụng website đó, nhưng thực tế cũng cho thấy những thông báo này thường bị “lờ” đi và hành vi vi phạm vẫn tiếp tục diễn ra. Như vậy, những hình thức xử lý của pháp luật hiện hành áp dụng đối với các website quốc tế kinh doanh, chào bán hàng giả ở Việt Nam là không có tính khả thi.
Nguyễn Thị Phương Chi












