Can thiệp cần thiết để giảm tử vong bà mẹ và trẻ em

MAI CHI
Chia sẻ

(PNTĐ) -Cũng như các nước thu nhập thấp và trung bình khác, các can thiệp nhằm mục tiêu giảm tử vong trẻ em ở nước ta đang gặp một số thách thức lớn. Đó là sự khác biệt về tình trạng sức khỏe và tử vong trẻ em giữa các vùng miền, tử vong sơ sinh giảm chậm và nguy cơ của một số dịch bệnh bùng phát trở lại.

Hơn 20 năm qua, tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi ở nước ta giảm mạnh

Vừa qua, Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, Bộ Y tế đã tổ chức Hội thảo phổ biến và lập kế hoạch triển khai các can thiệp nhằm giảm tử vong mẹ, tử vong trẻ em và trẻ sơ sinh. 

Can thiệp cần thiết để giảm tử vong bà mẹ và trẻ em - ảnh 1
Toàn cảnh hội thảo

Theo Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, tỷ số tử vong mẹ trên 100.000 trẻ đẻ, sống ở Việt Nam xếp thứ 5 ở Đông Nam Á. Tỷ lệ phụ nữ đẻ được khám thai từ 4 lần trở lên đạt trên 80%, tỉ lệ phụ nữ đẻ được nhân viên y tế đỡ duy trì 95-97%, tỉ lệ chăm sóc sau sinh trong 7 ngày đầu sau đẻ đạt xấp xỉ 80%. Tỉ lệ tử vong mẹ có sự chênh lệch giữa các vùng miền và nhóm dân tộc trong đó tử vong mẹ ở vùng 3 gấp 3,5 lần vùng 1, tỷ lệ tử vong mẹ ở người dân tộc Hmong gấp 7-8 lần dân tộc Kinh, Tày. Nguyên nhân trực tiếp gây tử vong mẹ là băng huyết (chiếm 52%), còn lại là các nguyên nhân gián tiếp.

Về tình hình chăm sóc sức khỏe trẻ em, từ năm 2000 đến 2021, tỉ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm 1,93 lần, tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi giảm 2,17 lần và tử vong sơ sinh giảm 1,55 lần. Tuy vậy khoảng cách về tử vong trẻ em dưới 1 tuổi ở dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh ngày càng tăng. Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi ở nông thôn cao gấp đôi thành thị. Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi ở dân tộc Hmong, Bana cao gấp 2,5 lần dân tộc Kinh, người Hoa.

Tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi cũng được cải thiện rõ rệt giai đoạn 2010-2020, từ 17,5% giảm xuống còn 11,5%. Tuy nhiên có sự khác biệt lớn trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em. Ở miền núi, vùng khó khăn, dân tộc thiểu số (Trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên): các tỷ lệ chăm sóc trước sinh, đẻ được cán bộ y tế có kinh nghiệm đỡ, chăm sóc sau sinh, tử vong trẻ em, suy dinh dưỡng… cao so với toàn quốc và dân tộc Kinh. Chất lượng chăm sóc trước sinh vẫn rất thấp.

Thách thức đặt ra theo Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em là tử vong mẹ do nguyên nhân gián tiếp tăng như các bệnh không lây nhiễm, tình trạng trầm cảm khi mang thai và sau sinh, bệnh di truyền, chuyển hóa dị tật bẩm sinh, suy dinh dưỡng thấp còi ở miền núi và béo phì ở thành thị. Sự bùng phát trở lại các bệnh như sởi, bạch hầu, sốt xuất huyết và tác động của thiên tai, địch họa, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường...

Nghiên cứu của Bệnh viện Nhi trung ương tổng kết về các nguyên nhân phổ biến gây tử vong trẻ em giai đoạn 2013 - 2017 cho thấy chưa có thay đổi nhiều trong mô hình bệnh tật, tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi so với giai đoạn trước đó. Số trẻ em tử vong nhiều nhất vẫn là ở giai đoạn sơ sinh. Giai đoạn từ 1 tháng – 5 tuổi, nguyên nhân chính gây tử vong vẫn là các bệnh về hô hấp, tuần hoàn, nhiễm khuẩn và dị tật bẩm sinh.

Một nguyên nhân quan trọng nữa gây tử vong trẻ em dưới 5 tuổi là tai nạn, thương tích. Thống kê hàng năm cho thấy tử vong trẻ em do tai nạn, thương tích thường chiếm từ 20 - 25% tổng số tử vong chung của trẻ em dưới 5 tuổi. Nguyên nhân chính của tử vong do tai nạn thương tích ở trẻ em là Đuối nước; Tai nạn giao thông và Tại nhà (hóc thức ăn, ngã, ngộ độc, điện giật, bỏng).

Giảm tử vong trẻ em cần đến nhiều biện pháp can thiệp

Kết quả của nhiều nghiên cứu can thiệp khẳng định rằng các nước hoàn toàn có thể giảm được hơn một nửa số tử vong trẻ em bằng các biện pháp đơn giản, không tốn kém và thực hiện được ở cả những nơi có nguồn lực hạn chế. Củng cố hệ thống chăm sóc y tế hỗ trợ các can thiệp chắc chắn sẽ mang lại cơ hội sống cho nhiều trẻ em.

Theo đó, Chương trình can thiệp giảm tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đặt mục tiêu giảm tử vong trẻ sơ sinh, trẻ em dưới 1 tuổi và trẻ em dưới 5 tuổi nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền về tiếp cận, sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe trẻ em có chất lượng.

Can thiệp cần thiết để giảm tử vong bà mẹ và trẻ em - ảnh 2
Chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em là nhiệm vụ quan trọng

Đến năm 2025, giảm tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh xuống 9‰ trong toàn quốc và xuống 15‰ ở các tỉnh năm 2020 có tỷ suất tử vong sơ sinh trên 19‰; Giảm tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi xuống dưới 12,5‰ trong toàn quốc và xuống 19,5‰ ở các tỉnh năm 2020 có tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi trên 21‰; Giảm tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi xuống dưới 18,5‰ trong toàn quốc và xuống 29,5‰ ở các tỉnh năm 2020 có tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi trên 32‰.

Đến năm 2030, giảm tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh xuống 8‰ trong toàn quốc và xuống 12‰ ở các tỉnh năm 2025 có tỷ suất tử vong sơ sinh trên 14‰; Giảm tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi xuống dưới 10‰ trong toàn quốc và xuống dưới 18‰ ở các tỉnh năm 2025 có tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi trên 19‰; Giảm tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi xuống dưới 15‰ trong toàn quốc và xuống dưới 27,5‰ ở các tỉnh năm 2025 có tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi trên 29‰.

Tăng cường năng lực hệ thống y tế, nâng cao khả năng tiếp cận trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em bao gồm cả dự phòng và điều trị, ưu tiên những vùng đặc biệt khó khăn nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền. Đến năm 2025, tỷ lệ phụ nữ đẻ được người đỡ đẻ có kỹ năng hỗ trợ đạt 95% trong toàn quốc, miền núi đạt 80%.

Đến năm 2030, tỷ lệ phụ nữ đẻ được người đỡ đẻ có kỹ năng hỗ trợ duy trì trên 95% trong toàn quốc, miền núi đạt 85%; Tỷ lệ trẻ có cân nặng sơ sinh dưới 2.500 gram xuống dưới 7,5%; Tỷ lệ trẻ sơ sinh được chăm sóc sơ sinh thiết yếu sớm đạt 90%; Tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ tiếp tục đạt trên 95%; Tỷ lệ trẻ từ 0-59 tháng tuổi viêm phổi được điều trị bằng kháng sinh đạt 95%.

Đến năm 2025: 100% các tỉnh/thành phố đưa mục tiêu giảm tử vong trẻ em dưới 5 tuổi vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương; 80% tỉnh/thành phố có bố trí ngân sách để thực hiện các mục tiêu của Chương trình; 90% tỉnh/thành phố triển khai thực hiện các dịch vụ y tế cơ bản về dự phòng và chăm sóc, nâng cao sức khỏe bà mẹ, trẻ em; 100% các tỉnh có chính sách thu hút cán bộ chuyên ngành sản/nhi về công tác tại y tế cơ sở, đặc biệt tại các vùng miền núi khó khăn;

Bộ Y tế sẽ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính rà soát, nghiên cứu, đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét, hỗ trợ từ nguồn ngân sách Trung ương để triển khai can thiệp Chương trình tại 12 tỉnh miền núi khó khăn và có tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi cao bao gồm: Lai Châu, Kon Tum, Điện Biên, Hà Giang, Quảng Trị, Lào Cai, Yên Bái, Gia Lai, Đắk Nông, Đắk Lắk, Cao Bằng và Sơn La; Năm 2025 sẽ tiến hành đánh giá để xem xét nhân rộng cho giai đoạn sau.

Xây dựng cập nhật các quy định, chính sách tăng cường chăm sóc sức khỏe, giảm tử vong trẻ sơ sinh và trẻ em; ban hành các tài liệu, hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi.

Xây dựng tiêu chí về nhân lực sản/nhi theo dân số/giường bệnh và chính sách thu hút cán bộ y tế lĩnh vực Sản Nhi cho các tỉnh miền núi; Tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, đào tạo, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để thực hiện Chương trình…

 

 

Ý kiến bạn đọc

Tin cùng chuyên mục

Bệnh lý tuyến tụy liên quan đến rượu và ăn uống

Bệnh lý tuyến tụy liên quan đến rượu và ăn uống

(PNTĐ) - Tuyến tụy vừa có chức năng nội tiết, tiết ra nội tiết tố insulin và glucagon để giữ ổn định lượng đường trong máu; vừa là cơ quan ngoại tiết, tiết ra các men tiêu hóa thức ăn. Tình trạng viêm tụy xảy ra khi các men tiêu hóa được hoạt hóa trước khi được đổ vào ruột non. Lúc này men tụy sẽ tấn công chính tuyến tụy, gây tổn thương mô tụy, khiến nhu mô tụy bị tổn thương một phần hoặc toàn bộ, đe dọa tính mạng người bệnh.
Phòng chống ngộ độc rượu bia ngày Tết

Phòng chống ngộ độc rượu bia ngày Tết

(PNTĐ) - Nhiều người quan niệm ngày Tết, gặp nhau mời uống một chút rượu, chút bia để chúc sức khỏe là điều vui mừng. Tuy nhiên uống nhiều rượu bia, đặc biệt ép nhau uống rượu bia thì vừa có hại cho sức khỏe, vừa không phải là nét “văn hóa” đẹp.