Trầm cảm ở người cao tuổi

BSCK II. Nguyễn Thị Phương Loan Viện Sức khỏe Tâm thần, BV Bạch Mai
Chia sẻ

(PNTĐ) - Trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất ở người cao tuổi (NCT). Bệnh có những đặc điểm lâm sàng và cơ chế chuyên biệt. Điều trị trầm cảm ở người cao tuổi cần phối hợp hóa dược, các liệu pháp tâm lý và điều biến não mang lại hiệu quả cao hơn.

Đặc điểm trầm cảm ở người cao tuổi

NCT thường có các đợt trầm cảm tái diễn của bệnh lý cảm xúc khởi phát từ trước (trầm cảm khởi phát sớm). Trong số người bệnh cao tuổi gặp trầm cảm, gần một nửa là trầm cảm khởi phát muộn (sau tuổi 65).

Theo các nghiên cứu dịch tễ trên thế giới, tỷ lệ trầm cảm ở NCT chiếm khoảng 1-4% ở cộng đồng; 5-10% ở cơ sở chăm sóc ban đầu; 10-12% ở người bệnh điều trị nội trú hoặc các cơ sở chăm sóc chuyên biệt. Tỷ lệ trầm cảm ở nữ giới cao hơn nam giới, tuy nhiên sự khác biệt này thu hẹp dần ở các độ tuổi cao hơn.

Yếu tố nguy cơ trầm cảm ở NCT gồm: Yếu tố sinh học (Nữ hơn nam, tiền sử trầm cảm trước đây, bệnh lý thực thể kèm theo, đau mạn tính, rối loạn giấc ngủ); yếu tố tâm lý xã hội (cô lập xã hội, độc thân, ly hôn, tang tóc, tình trạng kinh tế - xã hội thấp, thiếu sự chăm sóc).

Trầm cảm ở người cao tuổi - ảnh 1
Ảnh minh họa

Trầm cảm và các bệnh lý đồng diễn

Trầm cảm ở NCT có liên quan đến hàng loạt các bệnh lý về cơ thể (rối loạn chuyển hóa, ung thư, bệnh lý mạch máu, bệnh lý tự miễn) và bệnh lý tâm thần (suy giảm nhận thức, rối loạn vận động).

Bệnh có thể gây ra nhiều ảnh hưởng tới sức khỏe, chẳng hạn: Lão hóa sớm, thay đổi tiền viêm trong não, béo phì, đái tháo đường, bệnh lý tim mạch, ung thư, suy giảm nhận thức.

Một số bệnh lý có thể làm nặng lên trầm cảm như: Bệnh lý mạch não, bệnh lý mạch vành, bệnh lý hạch nền (Bệnh Parkinson, Huntington), sa sút trí tuệ (Alzheimer, sa sút trí tuệ mạch máu), ung thư (tuyến tụy, U lympho), bệnh lý tự miễn, bệnh lý nội tiết.

Sự liên quan của trầm cảm và các bệnh lý ở NCT là mối quan hệ 2 chiều. Theo đó, trầm cảm làm nặng tình trạng bệnh cơ thể thông qua hành vi chăm sóc sức khỏe (chế độ ăn không lành mạnh, hút thuốc lá, ít vận động, không tuân thủ điều trị); tác dụng phụ của thuốc, hoặc gây rối loạn nội tiết. Còn các bệnh lý cơ thể làm nặng tình trạng trầm cảm là bởi, khi sức khỏe suy giảm, người bệnh mất khả năng hoạt động, đau mạn tính; chưa kể tác động của các tổn thương não, thoái hóa thần kinh, viêm…

Đặc điểm lâm sàng của trầm cảm người cao tuổi

2 triệu chứng then chốt để phân biệt trầm cảm NCT phải kể đến là việc quan tâm quá mức về sức khoẻ thể chất, và những biểu hiện của buồn chán không nổi trội.

Ngoài ra, còn có các biểu hiện riêng của trầm cảm NCT: Bận tâm về các triệu chứng cơ thể gần đây. Đột ngột xuất hiện các triệu chứng lo âu hoặc ám ảnh. Cố ý tự gây hại vì những vấn đề cơ thể nhỏ nhặt. Rối loạn nhận thức nổi trội (giả sa sút trí tuệ). Rối loạn hành vi “không giống tính cách” gần đây.

Bởi vậy, khi khám, bác sĩ sẽ có chẩn đoán nhằm phân biệt trầm cảm với các bệnh khác ở NCT như: Sa sút trí tuệ, sảng, rối loạn lo âu, bệnh lý tuyến giáp, ung thư, thiếu máu, tác dụng không mong muốn của thuốc.

Điều trị trầm cảm ở người cao tuổi

Nhằm giải quyết các triệu chứng và dấu hiệu trầm cảm… tùy từng trường hợp mà bác sĩ áp dụng phương pháp điều trị gồm: Hóa dược, điều trị tâm lý, điều biến não. Tuy nhiên, kiểm nghiệm thực tiễn cho thấy, việc phối hợp hóa dược và điều trị tâm lý đem lại hiệu quả lớn hơn điều trị đơn độc. Bệnh nhân nên được đánh giá hàng tháng trong 6 – 12 tháng sau khi thuyên giảm; sau đó 3 tháng/lần sau 1 năm thuyên giảm.

Gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều trị bệnh trầm cảm ở NCT. Nếu có người thân mắc bệnh, người nhà nên ở bên thường xuyên, chăm sóc và động viên người bệnh, không để họ có cảm giác bị bỏ rơi hay cô đơn. Người thân hoặc người chăm sóc cần thường xuyên trò chuyện, tâm sự với người bệnh để giải tỏa tâm lý, tránh tạo thêm áp lực cho người bệnh.

Việc chăm sóc người bị trầm cảm có thể gây mệt mỏi, người nhà cần kiên trì và hết sức nhẹ nhàng. Cho người bệnh ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, đảm bảo sức khỏe. Chú ý cho người bệnh uống thuốc đúng liều và đề phòng các tác dụng không mong muốn của thuốc.

Ý kiến bạn đọc

Tin cùng chuyên mục

Bóc tách khối u 18cm, bảo tồn thiên chức làm mẹ cho sản phụ ung thư

Bóc tách khối u 18cm, bảo tồn thiên chức làm mẹ cho sản phụ ung thư

(PNTĐ) - Ngày 10/2, ê-kíp bác sĩ Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội phối hợp cùng chuyên gia Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội đã thực hiện thành công ca phẫu thuật lấy thai và bóc tách khối u buồng trứng kích thước 18cm cho một sản phụ ung thư, đồng thời bảo tồn tử cung để duy trì khả năng sinh sản.
Đốt sóng cao tần - giải pháp bảo tồn tử cung cho phụ nữ mắc u xơ, lạc nội mạc tử cung

Đốt sóng cao tần - giải pháp bảo tồn tử cung cho phụ nữ mắc u xơ, lạc nội mạc tử cung

(PNTĐ) - Trong điều trị các bệnh lý tử cung, đặc biệt là u xơ tử cung và lạc nội mạc tử cung, mong muốn lớn nhất của nhiều phụ nữ không chỉ là khỏi bệnh mà còn là giữ lại tử cung, bảo tồn khả năng sinh sản. Thấu hiểu nhu cầu chính đáng đó, những năm gần đây, y học hiện đại đã không ngừng nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp điều trị ít xâm lấn, trong đó đốt sóng cao tần (RFA) đang được đánh giá là một bước tiến quan trọng.
Bệnh viện Phụ sản Trung ương: Phiên chợ “0 đồng” mang Tết ấm đến người bệnh

Bệnh viện Phụ sản Trung ương: Phiên chợ “0 đồng” mang Tết ấm đến người bệnh

(PNTĐ) - Trong không khí rộn ràng của những ngày cuối năm, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương đã tổ chức chương trình “Xuân ấm áp – Tết nghĩa tình”, gửi gắm những lời chúc năm mới an lành, yêu thương tới người bệnh đang điều trị nội trú, đồng thời động viên đội ngũ thầy thuốc, nhân viên y tế của bệnh viện.
Hợp tác y tế nhằm thay đổi cách tiếp cận sa sút trí tuệ ở người cao tuổi Việt Nam

Hợp tác y tế nhằm thay đổi cách tiếp cận sa sút trí tuệ ở người cao tuổi Việt Nam

(PNTĐ) - Sa sút trí tuệ và Alzheimer đang trở thành một trong những thách thức y tế – xã hội lớn nhất trong bối cảnh Việt Nam già hóa dân số nhanh. Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, đặc biệt là xét nghiệm chỉ dấu sinh học trong máu, được kỳ vọng sẽ giúp chuyển dịch từ chẩn đoán muộn sang phát hiện sớm, chủ động quản lý và chăm sóc hiệu quả người cao tuổi.