Hiểu rõ 5 giai đoạn của Ung thư vú

THS.BSNT TRẦN NGỌC HẢI (Khoa Ung bưới, BV Đa khoa Tâm Anh, Hà Nội)
Chia sẻ

(PNTĐ) - Giai đoạn ung thư vú là một cách mô tả mức độ lan rộng của ung thư vú, bao gồm kích thước của khối u, mức độ di căn đến các cơ quan lân cận. Việc biết được giai đoạn ung thư vú sẽ giúp bác sĩ quyết định được phương pháp điều trị nào tốt nhất cũng như dự đoán tiên lượng của bệnh nhân để tăng cơ hội hồi phục.

Ung thư vú là gì?

Ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất được chẩn đoán ở phụ nữ, chiếm hơn 1/10 trường hợp ung thư mới được chẩn đoán mỗi năm. Đây là nguyên nhân phổ biến thứ hai gây tử vong do ung thư ở phụ nữ trên thế giới. Ung thư vú diễn biến âm thầm và hầu hết bệnh được phát hiện khi khám sàng lọc định kỳ.

Ung thư vú phát triển do tổn thương ADN và đột biến gen có thể bị ảnh hưởng khi tiếp xúc với estrogen. Đôi khi sẽ có sự di truyền của các khiếm khuyết ADN hoặc các gen tiền ung thư như BRCA1 và BRCA2. Do đó, nếu có tiền sử gia đình bị ung thư buồng trứng hoặc ung thư vú sẽ làm tăng nguy cơ phát triển ung thư vú. Ở một cá nhân bình thường, nếu hệ thống miễn dịch tấn công các tế bào có ADN bất thường sẽ dẫn đến khối u phát triển và lan rộng.

Khám sức khỏe, chẩn đoán hình ảnh, đặc biệt là chụp nhũ ảnh và sinh thiết mô sẽ giúp chẩn đoán ung thư vú. Khối u có xu hướng di căn theo đường bạch huyết và huyết học, dẫn đến di căn xa và tiên lượng xấu, vì vậy việc chẩn đoán càng sớm thì tỷ lệ sống còn càng được cải thiện. 

Hiểu rõ 5 giai đoạn của Ung thư vú - ảnh 1
Ảnh minh họa. Nguồn: Int

Các giai đoạn ung thư vú

Có 5 giai đoạn ung thư vú, giai đoạn 0 là ung thư biểu mô ống không xâm lấn tại chỗ (DCIS) và giai đoạn từ I đến IV là ung thư vú xâm lấn. Giai đoạn I đến IV được xác định là bệnh ung thư, các bác sĩ có thể hội chuẩn để đưa ra phác đồ điều trị tốt nhất.

Giai đoạn 0: Tiền ung thư

Giai đoạn 0 mô tả ung thư mới chỉ ở trong các ống dẫn của mô vú và chưa lan sang các mô xung quanh của vú. Nó còn được gọi là ung thư không xâm lấn hoặc ung thư tại chỗ (Tis, N0, M0).

Giai đoạn I: Xâm lấn

Giai đoạn IA: Khối u còn nhỏ, xâm lấn và chưa lan đến các hạch bạch huyết (T1, N0, M0).

Giai đoạn IB: Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết và ung thư trong hạch có kích thước lớn hơn 0,2mm nhưng nhỏ hơn 2mm; Không có bằng chứng về khối u ở vú hoặc khối u ở vú có kích thước 20mm hoặc nhỏ hơn (T0 hoặc T1, N1mi, M0).

Giai đoạn II: Tiến triển

Giai đoạn IIA: Không có bằng chứng về khối u ở vú, nhưng ung thư đã di căn tới 1-3 hạch bạch huyết ở nách. Nó không lây lan đến các bộ phận xa của cơ thể (T0, N1, M0); Khối u có kích thước 20mm hoặc nhỏ hơn và đã lan đến 1-3 hạch bạch huyết ở nách (T1, N1, M0); Khối u lớn hơn 20mm nhưng không lớn hơn 50mm và chưa di căn đến các hạch bạch huyết ở nách (T2, N0, M0).

Giai đoạn IIB: Khối u lớn hơn 20mm nhưng không lớn hơn 50mm và đã di căn đến 1-3 hạch bạch huyết ở nách (T2, N1, M0); Khối u lớn hơn 50mm nhưng chưa di căn đến các hạch bạch huyết ở nách (T3, N0, M0).

Giai đoạn III: Lan rộng 

Giai đoạn IIIA: Ung thư đã đạt đến bất kỳ kích thước nào và lan tới 4-9 hạch bạch huyết ở nách hoặc đến các hạch bạch huyết bên trong tuyến vú nhưng chưa lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể (T0, T1, T2 hoặc T3; N2; M0). Giai đoạn IIIA cũng có thể là một khối u lớn hơn 50mm đã di căn tới 1-3 hạch bạch huyết ở nách (T3, N1, M0).

Giai đoạn IIIB: Khối u đã lan đến thành ngực hoặc gây sưng, loét vú; hoặc được chẩn đoán là ung thư vú dạng viêm. Nó có thể đã hoặc không lan đến 9 hạch bạch huyết ở nách hoặc bên trong tuyến vú và chưa lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể (T4; N0, N1, hoặc N2; M0).

Giai đoạn IIIC: Một khối u có kích thước bất kỳ đã lan đến 10 hoặc nhiều hạch bạch huyết ở nách, các hạch bạch huyết bên trong tuyến vú và/hoặc các hạch bạch huyết dưới xương đòn nhưng chưa lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể (bất kỳ T, N3, M0).

Giai đoạn IV: Di căn

Khối u có thể có kích thước bất kỳ và đã lan đến các cơ quan khác, chẳng hạn như xương, phổi, não, gan, các hạch bạch huyết ở xa hoặc thành ngực (bất kỳ T, bất kỳ N, M1). Thông thường, ung thư vú di căn được phát hiện sau khi chẩn đoán ung thư vú giai đoạn đầu với tỷ lệ khoảng 6%.

Tỷ lệ sống sau 5 năm qua từng giai đoạn ung thư vú

Tiên lượng sống cho bệnh nhân ung thư vú phụ thuộc nhiều vào tình trạng hạch nách. Số lượng các hạch bạch huyết dương tính càng nhiều thì kết quả càng xấu. Và các khối u đáp ứng với hormone thường có kết quả tốt hơn.

Tiên lượng của ung thư vú giai đoạn đầu thường là tốt. Cả giai đoạn 0 và giai đoạn I đều có tỷ lệ sống còn sau 5 năm là 100%. Tỷ lệ sống sau 5 năm của ung thư vú giai đoạn II và giai đoạn III tương ứng là khoảng 93% và 72%. Khi khối u di căn toàn thân, tiên lượng sẽ xấu đi đáng kể, chỉ 22% bệnh nhân ung thư vú giai đoạn IV sống sót sau 5 năm tiếp theo. 

Các phương pháp chẩn đoán giai đoạn ung thư vú

Bác sĩ có thể chẩn đoán giai đoạn ung thư vú bằng các xét nghiệm hoặc các triệu chứng lâm sàng. Việc lựa chọn phương pháp chẩn đoán sẽ phụ thuộc vào phương pháp điều trị đầu tiên cho ung thư vú là gì.

Xét nghiệm: Được chỉ định đối với trường hợp điều trị đầu tiên bằng phương pháp phẫu thuật. Bác sĩ có thể xác nhận giai đoạn ung thư vú sau phẫu thuật 5-7 ngày.

Chụp nhũ ảnh: Chụp nhũ ảnh là phương thức được sử dụng phổ biến nhất để chẩn đoán ung thư vú. Hầu hết các trường hợp không có triệu chứng được chẩn đoán trong quá trình chụp nhũ ảnh tầm soát. Ung thư vú luôn biểu hiện dưới dạng vôi hóa, khối u dày đặc, có hoặc không có biến dạng kiến trúc. Với hệ thống chụp nhũ ảnh 3D – Mammomat Inspiration hiện đại bậc nhất của Đức, tỷ lệ phát hiện ung thư tăng lên 40%, tỷ lệ dương tính giả giảm 40% tại BVĐK Tâm Anh HCM cũng giúp cho việc chẩn đoán chính xác cao, từ đó giúp các bác sĩ có thể hội chuẩn sớm và đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả.

Siêu âm: Nếu chụp nhũ ảnh không nhạy ở phụ nữ trẻ, phương pháp siêu âm vú sẽ được chỉ định. Siêu âm rất hữu ích trong việc đánh giá độ đặc và kích thước của các khối u vú.

Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI): Có độ nhạy tốt để mô tả các bất thường trong các mô mềm, bao gồm cả vú. Nó được chỉ định cho các trường hợp có tổn thương ẩn hoặc nghi ngờ bệnh ác tính đa ổ hoặc hai bên, đặc biệt là ILC và khi đánh giá đáp ứng với hóa trị liệu bổ trợ, hoặc khi lập kế hoạch sàng lọc và phẫu thuật bảo tồn vú ở những bệnh nhân có nguy cơ cao.

Sinh thiết mô: Sinh thiết mô là một bước quan trọng trong việc đánh giá một bệnh nhân ung thư vú. Có nhiều cách khác nhau để lấy mẫu mô, bao gồm tế bào học chọc hút bằng kim nhỏ, sinh thiết lõi (Trucut) và sinh thiết rạch hoặc cắt.


 

Tin cùng chuyên mục

Bộ Y tế đề nghị làm rõ vụ việc cháu bé nghi tử vong do hóc hạt bí

Bộ Y tế đề nghị làm rõ vụ việc cháu bé nghi tử vong do hóc hạt bí

(PNTĐ) - PGS.TS Lương Ngọc Khuê - Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) vừa ký văn bản gửi Sở Y tế tỉnh Quảng Ngãi đề nghị xem xét, xác minh thông tin báo chí phản ánh về sự việc cháu bé nghi hóc hạt bí, người nhà tố bệnh viện Sản - Nhi Quảng Ngãi tắc trách khiến cháu tử vong.
Vị thuốc quý từ hoa đào

Vị thuốc quý từ hoa đào

(PNTĐ) - Theo Đông y, hoa đào có vị đắng, tính bình, lợi vào 3 kinh tâm - can - vị. Không chỉ dùng để dưỡng nhan, hoa đào còn có công năng hoạt huyết, lợi thủy, thông tiện, chữa trị chứng thủy thũng, đàm ẩm, tích trệ, đại tiểu tiện bất lợi, kinh nguyệt không đều.
Bệnh lý tuyến tụy liên quan đến rượu và ăn uống

Bệnh lý tuyến tụy liên quan đến rượu và ăn uống

(PNTĐ) - Tuyến tụy vừa có chức năng nội tiết, tiết ra nội tiết tố insulin và glucagon để giữ ổn định lượng đường trong máu; vừa là cơ quan ngoại tiết, tiết ra các men tiêu hóa thức ăn. Tình trạng viêm tụy xảy ra khi các men tiêu hóa được hoạt hóa trước khi được đổ vào ruột non. Lúc này men tụy sẽ tấn công chính tuyến tụy, gây tổn thương mô tụy, khiến nhu mô tụy bị tổn thương một phần hoặc toàn bộ, đe dọa tính mạng người bệnh.