Người vay không trả nợ đúng hạn thì bị xử lý như thế nào?

Câu hỏi
Bạn tôi cho đồng nghiệp vay 1,2 tỷ đồng để chơi chứng khoán. Tuy nhiên, khi đến hạn trả nợ, lấy lý do mã chứng khoán đầu tư đã bị hủy niêm yết, người này không chịu trả nợ mặc dù còn nhiều tài sản khác. Xin hỏi Báo PNTĐ, bạn tôi có quyền làm đơn gửi chính quyền sở tại hoặc cơ quan công an để nhờ đòi lại số tiền đã cho vay hay không? Trong trường hợp nào thì người vay có thể bị xử lý hình sự? Xin cám ơn quý Báo!

Lê Tuấn Anh (Nam Từ Liêm, Hà Nội)

Trả lời
Thông tin của bạn cho thấy, bạn của bạn và đồng nghiệp đã giao kết hợp đồng vay tài sản, cụ thể là hai bên thỏa thuận cho vay số tiền 1,2 tỷ đồng.

Theo Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Các bên có thể thỏa thuận về việc tài sản vay phải được sử dụng đúng mục đích vay. Bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản và có quyền đòi lại tài sản vay trước thời hạn nếu đã nhắc nhở mà bên vay vẫn sử dụng tài sản trái mục đích.
Tuy nhiên, trong bất kỳ trường hợp nào, về nguyên tắc người vay phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ được quy định tại Điều 466 của Bộ luật này. Đó là:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Mục đích sử dụng tiền vay không phải là điều kiện để người vay có thể trả nợ hay không trả nợ. Nói cách khác, người vay có nghĩa vụ trả đầy đủ, đúng hạn toàn bộ tiền vay và tiền lãi theo thỏa thuận với người cho vay.

Nếu không, người cho vay có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự để đòi lại số tiền nêu trên. Bởi vì, theo Điều 186 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

Với tư cách người khởi kiện, bạn của bạn có trách nhiệm chứng minh các vấn đề liên quan đến nội dung khởi kiện đòi lại tiền, ví dụ thỏa thuận giữa hai bên về số tiền cho vay, lãi suất, thời hạn. Theo quy định của pháp luật, người này không có trách nhiệm chứng minh người vay còn tài sản khác mà không trả tiền vay cho mình.

Nhưng đó có thể là bằng chứng để cơ quan có thẩm quyền xác minh, điều tra hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác trong trường hợp vụ việc có dấu hiệu hình sự.

Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 3 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tóm lại, với tư cách người cho vay, khi đến hạn người vay không chịu trả nợ, bạn của bạn có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án để yêu cầu giải quyết đòi lại tiền. Trường hợp người vay có khả năng trả nợ mà trốn tránh, bỏ khỏi nơi cư trú… bạn có thể tố cáo hành vi của người này đến cơ quan công an để được xem xét xử lý theo trình tự tố tụng hình sự.

Luật sư: Hồng Hải

Bạn đang đọc bài viết Người vay không trả nợ đúng hạn thì bị xử lý như thế nào? tại chuyên mục Phụ san Đời sống Gia đình của Báo phụ nữ thủ đô. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng liên hệ SĐT: 0243.9421865 hoặc gửi về hòm thư baophunuthudo@gmail.com