Hà Nội, ngày giải phóng
PNTĐ-Sau chín năm kháng chiến chống Pháp, Hà Nội đón bộ đội trở về. Nhìn cảnh xung quanh, tôi thấy vừa quen, vừa lạ. Cờ đỏ sao vàng khắp các phố...
Tháng 10 năm 1954, tôi cùng cơ quan báo Phụ nữ từ chiến khu Việt Bắc lên đường về Thủ đô vừa giải phóng. Chúng tôi đi suốt ngày không thấy mệt. Trời bắt đầu tối, chúng tôi nghỉ lại bản nhỏ bên bờ suối.
Quanh đống lửa hồng rực trong ngôi nhà sàn, chúng tôi cùng nhau nướng sắn, hồi hộp tưởng tượng đến lúc về Thủ đô. Đã xa cách 9 năm, Hà Nội bây giờ như thế nào nhỉ? Chợt có tiếng gọi:
- Chị Tú ra có người gặp.
Tôi bước ra ngoài và không tin vào mắt mình. Anh Lê Quang Đạo, chồng tôi, đang đứng trước mặt. Đúng là anh !
Tôi đứng lặng. Đã gần một năm xa cách, từ đêm hôm anh lên đường đi chiến dịch Điện Biên Phủ. Anh cười, nắm tay tôi:
- Sao? Gặp anh không vui sao mà mặt như sắp khóc thế kia?
Cùng đi chung một con đường từ Việt Bắc về Hà Nội nhưng vợ chồng tôi không biết. Tối hôm ấy, chúng tôi được ở bên nhau. Thấy tôi tiến bộ trong công tác, anh rất mừng. Anh dặn tôi:
- Sang công tác mới, Tuệ phải suy xét sâu sắc mọi việc, bình tĩnh trước khó khăn. Lúc đầu có thể bỡ ngỡ lúng túng, sau sẽ có kinh nghiệm hơn. Dám nghĩ, dám làm, nhưng phải thận trọng.
Sáng hôm sau, chia tay tôi, anh lên đường về Hà Nội. Lúc ấy, anh là phó trưởng đoàn đi hội nghị Trung Giã, đàm phán với phía Pháp về việc thực hiện hiệp định Giơ ne vơ vừa ký kết.
![]() |
| Hà Nội, ngày giải phóng |
Cơ quan tôi về Thủ đô sau đoàn anh Đạo mấy ngày. Chúng tôi đi qua vùng mới giải phóng - “vành đai trắng” trước kia. Suốt bảy tám cây số, đồng ruộng bỏ hoang, cỏ mọc cao quá đầu người. Làng mạc, phố xá trơ trụi. Nghe tin chiến thắng Điện Biên, người dân nô nức kéo về làng cũ, gần xa phấp phới cờ đỏ sao vàng. Mỗi khi ôtô cán bộ tiếp quản đi qua, dân chúng hai bên đường vẫy tay hoan hô, các em thiếu nhi reo hò vui sướng.
Sau chín năm kháng chiến chống Pháp, Hà Nội đón bộ đội trở về. Nhìn cảnh xung quanh, tôi thấy vừa quen, vừa lạ. Cờ đỏ sao vàng khắp các phố. Điệu múa sạp, bài hát Hò kéo pháo mang không khí chiến thắng Điện Biên Phủ về làm sôi động cả Thủ đô.
Pháp rút đi, một số đồng bào bỏ vào Nam. Cách mấy phố lại có một phố “chợ trời”. Bàn, ghế, giường, tủ... bày bán khắp nơi. Thiếu nữ áo dài tha thướt, tóc “phi-dê”. Nhìn các cô, có cậu bộ đội tặng câu nói vui: “Các cô áo ve sầu, đầu bắp cải”, ghi lại dấu ấn ngày Hà Nội mới hoà bình.
Chúng tôi, những cán bộ phụ nữ về tiếp quản Thủ đô nổi bật với bộ đồ ka-ki, đôi dép cao su.
Lúc mới về, chúng tôi ở ngôi nhà của Bộ Ngoại giao hiện nay. Bề ngoài trông to đẹp, nhưng bên trong trống huếch trống hoác. Chúng tôi phải mua chiếu trải ra giữa sàn nhà. Đêm đến, mắc màn cá nhân ngủ như bộ đội dã chiến.
Một tuần sau, chúng tôi về ở số nhà 80 đường Nguyễn Du. Vẫn chưa mua được giường, chúng tôi ngả cánh cửa ra ngủ. Một đêm mưa to, đang ngủ nghe tiếng “rầm”, cả phòng choàng dậy. Một mảng tường to sập chính giữa nhà. May sao không phải nơi chúng tôi đặt cánh cửa để ngủ. Vài tuần sau chúng tôi được may mỗi người một chiếc áo dài, mầu vỏ đỗ cho lớp trung niên, màu xanh da trời cho lớp trẻ. Tuy mặc áo dài nhưng chúng tôi vẫn đậm chất “chiến khu” trông khác biệt với các cô gái Hà Thành.
Tôi trở về làm việc ở báo Phụ nữ Việt Nam. Hoà bình, về Hà Nội, tờ báo Phụ nữ Việt Nam lớn gấp đôi khổ báo cũ. Bìa số đầu có ảnh phụ nữ ba miền Trung, Nam, Bắc.
Chị Đinh Thị Cẩn, chủ nhiệm báo, bảo tôi :
- Bác Hồ đích thân duyệt bài “Phụ nữ tham gia cải cách ruộng đất” của Nguyệt Tú đấy nhé.
Mặc dù rất bận, Bác vẫn xếp thời gian đọc bản thảo bài báo của tôi. Hồi ấy, vấn đề cải cách ruộng đất đang được chú ý. May sao, bài báo của tôi không có gì sai, chỉ bị đổi lại vị trí của hai từ.
Tôi làm việc ở báo Phụ nữ năm sáu năm liền. Tôi viết bài cho tổ nông nghiệp, tổ công nghiệp.
![]() |
| Nhà văn Nguyệt Tú (cầm nón) trong đoàn đại biểu báo Phụ nữ Việt Nam đi đón khách quốc tế những năm đầu giải phóng Thủ đô |
Sau vài tháng làm việc ở toà báo, tôi được phân công về Kinh Bắc viết bài. Nhân dịp này, tôi về Đình Bảng thăm bố mẹ chồng. Tôi vừa đi vừa thấp thỏm, lo lắng. Đình Bảng đang tiến hành cải cách ruộng đất. Tôi biết gia đình chồng chỉ sống về nghề nhuộm thâm. Nhưng cán bộ cải cách ruộng đất đợt này phần đông còn trẻ tuổi, không có kinh nghiệm công tác nông thôn. Không hiểu họ sẽ quyết định bố mẹ chồng tôi thuộc thành phần giai cấp nào.
Vừa vào cổng, tôi gặp mẹ chồng đang gánh phân ra đồng. Bà gầy yếu hơn nhiều so với hồi tản cư, khi chúng tôi mới cưới.
- Đẻ - Tôi kêu lên và ôm chầm lấy bà.
Ông bà bao ngày đêm lo âu, sợ bị quy thành phần địa chủ. Trong làng có kẻ xúi anh Cận, người giúp việc cho gia đình, đấu tố ông bà. Nhưng anh Cận trả lời:
Tôi ôn tồn giải thích cho bà yên tâm:
- Đẻ chỉ sống với nghề nhuộm thâm và bán lụa nhuộm. Thầy đẻ đừng lo.
Nhưng ông bà vẫn bị quy vào thành phần bóc lột vì đã thuê anh Cận. Sau sửa sai, gia đình chồng tôi được công nhận là trung nông.
Sống hạnh phúc trong hoà bình có chồng con bên cạnh nhưng tôi vẫn không yên tâm. Cha tôi, họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, và các em tôi đang sống ở Hà Tĩnh, trong căn nhà lá nhỏ. Cha tôi vẫn chiếc cặp vác vai len lỏi khắp các vùng quê vẽ truyền thần. Thương cha cảnh gà trống nuôi con, nhiều đêm tôi trằn trọc mất ngủ. Cuộc sống của cán bộ tiếp quản những ngày đầu Thủ đô mới giải phóng rất khó khăn. Chúng tôi chỉ ăn cơm tập thể, không có lương. Tiền phụ cấp tiêu vặt không đáng kể. Cơ quan phân chỗ ở tạm. Anh Đạo cũng trăn trở như tôi. Anh bàn với tôi:
- Hôm nay, anh đến chơi chỗ anh Nguyễn Đình Thi và mấy anh ở Hội văn hoá Cứu quốc cũ. Các anh ấy nhắc đến họa sĩ Nguyễn Phan Chánh. Trường Cao đẳng Mỹ thuật đang cần người dạy. Hay chúng ta đón thầy và các em ra.
Nghe vậy, tôi rất mừng, nhưng không khỏi lo lắng:
- Em biết tính thầy xưa nay không muốn xa quê hương. Trước đây, đã mấy lần các đồng chí ở Hội văn nghệ Trung ương và Khu 4 cũ viết thư mời thầy ra làm việc. Thầy Đặng Thai Mai cũng có lần nhắc em mời thầy ra. Nhưng ý thầy vẫn không chuyển. Lần này không biết có ăn thua gì không?
Đúng như tôi dự đoán, cha tôi không ra. Một anh bên báo Văn có sáng kiến đăng tin: “Hoạ sỹ Nguyễn Phan Chánh đang ở Hà Nội”. Mọi người muốn đặt cha tôi vào “việc đã rồi” để ông không từ chối được. Không lâu sau, tôi nhận được thư từ Hà Tĩnh: “Thầy không thể phụ lòng các ông ấy mãi được”. Tôi mừng quá, chắc chắn sẽ có ngày chúng tôi được đón cha tại Hà Nội.
Một hôm, anh Đạo đi làm về, đồng chí ở Văn phòng Tổng Cục chính trị đến báo tin vui:
- Cụ đã từ Hà Tĩnh ra và đang đợi ở nhà khách Quân đội.
Anh Đạo vội lấy xe đạp, giục tôi:
- Nhanh lên em, chúng ta đi đón thầy.
Đây là lần đầu tiên cha tôi gặp anh Đạo, sau tám năm chúng tôi cưới nhau. Tôi hồi hộp chờ đợi buổi gặp đầu tiên của bố vợ và con rể.
Cha tôi già hơn mấy năm trước nhiều, tóc bắt đầu bạc. Cũng giống như mùa đông năm xưa, ngày cha tôi đưa cả gia đình ra Hà Nội, trời rét đậm, gió buốt từng cơn. Nhìn cha mặc mấy chiếc sơ mi bộ đội chồng lên nhau, hai đứa em gái áo mỏng manh, lòng tôi se lại. Anh Đạo ôm lấy cha, nét mặt xúc động. Cha nhìn anh, đôi mắt tinh anh ánh lên niềm vui. Anh cởi chiếc áo trấn thủ mặc cho cha, ông không từ chối. Tôi thở phào, biết anh Đạo đã chiếm được cảm tình của cha tôi. Nói chuyện với cha, anh Đạo chỉ hiểu lõm bõm vì ông nói giọng Nghệ Tĩnh. Tôi phải làm phiên dịch cho anh.
Hai con trai tôi được cơ quan quân đội đưa từ chiến khu về chỗ anh Đạo. Ngày nghỉ cuối tuần tôi mới được gặp hai con. Con gái Nguyệt Tĩnh đi theo nhà trẻ quân đội về Hà Nội sau cùng. Như vậy là 1 tháng sau ngày giải phóng Thủ đô gia đình tôi mới được ăn bữa cơm chung đầu tiên theo suất ăn bộ đội.
Bữa cơm sum họp gia đình đầu tiên, nhìn cảnh, nhìn người, tôi vẫn chưa tin hoà bình là thật. Cuộc chiến tranh tưởng như kéo dài mãi đã thực sự kết thúc rồi ư? Từ ghế nhà trường, tôi đi thẳng vào cuộc chiến tranh. Tuổi thanh niên đẹp nhất của cuộc đời, tôi đã mãi mãi để lại trên những nẻo đường kháng chiến. Tôi không được hưởng những vũ hội rực rỡ, những buổi tối êm đềm bên bạn trai… Nhưng thế hệ chúng tôi có niềm tự hào được tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp giữ nước vĩ đại. Bao nhiêu gian khổ, đau thương đã lùi lại phía sau. Từ cuộc chiến bước ra, tôi đã trở thành một thiếu phụ, mẹ của ba con nhỏ. Tôi có một gia đình hạnh phúc.
Một năm sau, Bác Hồ, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cấp cho anh Lê Quang Đạo và anh Song Hào căn biệt thự song lập tại 28D đường Cột Cờ (nay là đường Điện Biên Phủ). Khi đến thăm, nhìn căn nhà trống trơn, Bác Hồ đã nói vui: “Nhà tướng rau muống!” và lệnh cấp thêm giường tủ.
Đã 58 năm trôi qua từ ngày giải phóng Thủ đô, gia đình tôi chính thức trở thành “người Tràng An”. Hơn nửa thế kỷ tại căn biệt thự Bác Hồ cấp chúng tôi đã sống những ngày tháng vui buồn của người dân Thủ đô. Nơi đây đã chứng kiến những hồi còi báo động, những lúc trú ẩn dưới hầm ngay trong nhà, nghe rõ tiếng bom rơi, đạn nổ. Những lần đưa các con đi sơ tán và đón các con trở lại Thủ đô đã hết tiếng còi báo động…
Chẳng bao lâu nữa gia đình tôi sẽ chia tay căn biệt thự lịch sử này, nhường lại cho Khu di tích Hoàng thành Thăng Long. Dù có đi đâu, những kỷ niệm với căn biệt thự, với Hà Nội, sẽ theo tôi mãi trong những năm tháng còn lại của cuộc đời.
Nhà văn Nguyệt Tú















