Trả lại vai trò lịch sử của Ỷ Lan Nguyên Phi (Kỳ 2)
PNTĐ-Cùng với tầm nhìn lịch sử chiến lược quan trọng, Nguyên Phi Ỷ Lan-Thái hậu Linh Nhân đã thể hiện đức độ, tài năng trong công cuộc xây dựng đất nước
(Tiếp theo kỳ trước)
Những đóng góp quan trọng về văn hóa và xã hội
Cùng với tầm nhìn lịch sử chiến lược quan trọng, Nguyên Phi Ỷ Lan-Thái hậu Linh Nhân đã thể hiện đức độ, tài năng trong công cuộc xây dựng đất nước:
- Thực hiện dựng nền Nho học đưa nước Đại Việt thành một nhà nước văn hiến vững mạnh. Với nền Nho học mới manh nha, chủ yếu dựa trên quốc đạo Phật giáo, vua Lý Thánh Tông đã cho xây Văn Miếu để thờ Khổng Tử, Chu Công và các vị đại hiền, Ỷ Lan cho xây tiếp Quốc Tử Giám làm trường học cho các hoàng tử và con cháu hoàng tộc cũng ngay tại Văn Miếu.
Đến năm 1075 đã tổ chức khoa thi đầu tiên gọi là “Minh Kinh Bác Học và Tam Trường”, mở đầu cho nền thi cử Nho học nước ta, trong khoa thi này đã lấy Lê Văn Thịnh đỗ thủ khoa và tuyển vị thủ khoa đầu tiên này làm thầy dạy cho con (sau này là vua Lý Nhân Tông), Lê Văn Thịnh sau đó làm đến chức Thái sư (quan đầu triều). Theo Đại Việt sử ký toàn thư (TT): Năm 1077 tổ chức thi tuyển “Lại Viên”: bằng phép viết chữ, phép tính và hình luật;…, năm 1086: thi những người có Nho học trong nước, sung làm quan ở Hàn Lâm Viện…
- Cùng với việc “dựng nền Nho học”, Nhiếp Chính Ỷ Lan đã có nhiều công lao trong công việc “hưng nền Phật đạo”, tiếp tục duy trì Phật giáo là quốc đạo của Đại Việt; đặc biệt đã tạo nên sự đồng thuận giữa Nho giáo và Phật giáo, làm cơ sở cho “tam giáo đồng hành” phát triển tốt thời đó. Trên cương vị Nhiếp Chính đã chấn hưng Phật giáo mang đậm tính dân tộc, thích hợp với tập quán sinh hoạt người Việt. Sách “Thiền Uyển Tập Anh”, cuốn sách viết về Phật giáo cổ nhất nước ta còn ghi rõ: Rằm tháng hai năm Hội Phong thứ 5, Linh Nhân Hoàng Thái Hậu thiết lễ tại chùa Trấn Quốc, đàm đạo cùng các bậc túc tăng kỳ lão về nguồn gốc đạo Phật truyền đến nước ta, làm cơ sở cho việc xác định nguồn gốc và hướng phát triển của đạo Phật nước nhà.
![]() |
Cũng trong Thiền Uyển Tập Anh còn ghi lại được “Bài kệ Sắc-Không” của Ỷ Lan, không chỉ thể hiện trình độ uyên thâm về Phật đạo mà còn được đánh giá là một bài thơ hay trong văn học thời Lý. Vốn là một tín đồ sùng đạo Phật, trên cương vị nhiếp chính và trong suốt cuộc đời đã tích cực xây dựng các chùa trên mọi vùng đất nước, nhiều người cho là để sám hối việc giết hại hơn 70 cung nữ, tuy nhiên kiểm lại thấy có đến hơn 100 chùa, theo TT nhiều chùa lớn như chùa Trấn Quốc, Diên Hựu (chùa Một Cột) ở kinh thành, chùa Phật Tích ở Kinh Bắc… đều có sự đóng góp công sức của Ỷ Lan.
Để giải thích việc ở ngôi cao tuyệt đỉnh mà vẫn thông cảm, gần gũi với tầng lớp bình dân nghèo khổ, hiếm thấy trong các triều đình phong kiến xưa, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ngoài đức độ, cần lưu ý đến nguồn gốc và lòng mộ đạo của Ỷ Lan.
Qua sơ lược thân thế và sự nghiệp của Lê Thị Khiết tức Nguyên Phi Ỷ Lan-Thái Hậu Linh Nhân (toàn bộ xin xem tiểu thuyết lịch sử “Mẫu Ỷ Lan”-NXB Hội Nhà Văn-Ngô Ngọc Liễn) cũng cho thấy sự đóng góp lớn lao và cơ bản của bậc nữ lưu kiệt hiệt hiếm có trong lịch sử nước nhà. Người từ một thôn nữ qua hai lần “nhiếp chính”, trong suốt nửa cuối thế kỷ XI đã tạo dựng nên thời kỳ cường thịnh, oanh liệt của nước Đại Việt: Chiến thắng cuộc xâm lược phương Bắc và mở rộng bờ cõi phía Nam, dựng nền văn hiến Nho học, hưng nền Phật đạo dân tộc, chăm lo phát triển nông nghiệp và hết lòng thương yêu, gần gũi người dân. Người cho đến nay còn được thờ tại hàng trăm đền, chùa trên nhiều miền đất nước, Người được người dân từ xưa đến nay vẫn sùng kính gọi là “Mẫu Ỷ Lan”.
Rất tiếc do các sử gia xưa với tầm nhìn Nho giáo hạn chế: Theo “triều đại chính thống” và coi thường nữ giới nên đã làm hạn chế và lu mờ vai trò cũng như sự đóng góp to lớn của Người. Thiển nghĩ, đến thời đại ngày nay, để trả lại đầy đủ vai trò lịch sử của Nguyên Phi Ỷ Lan, mong các nhà trí giả, các cơ quan có trách nhiệm, đặc biệt Hội Sử học, Hội Phụ Nữ Việt Nam quan tâm đến tuyên truyền, xây dựng hình ảnh của Nguyên Phi Ỷ Lan, như:
- Truyền bá rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài…), qua các hình thức nghệ thuật phổ cập (phim truyện, truyền hình, sân khấu…).
- Chính thức bổ sung trong các sách, tài liệu giáo khoa, lịch sử… (hiện nay trong các sách giáo khoa phổ thông chưa được nhắc đến).
- Tại các di tích lịch sử có liên quan đến công lao to lớn của Người như Văn Miếu Quốc Tử Giám, chùa Trấn Quốc… cần có bia, bảng giới thiệu để nhân dân và người nước ngoài biết.
GS.TS. Ngô Ngọc Liễn














