Liệu pháp nội tiết trong điều trị ung thư vú

LÝ THANH
Chia sẻ

(PNTĐ) - Điều trị ung thư vú (UTV) là điều trị đa mô thức với sự kết hợp của phẫu thuật, hoá chất, xạ trị, nội tiết và các phương pháp điều trị nhắm trúng đích. Trong đó, điều trị nội tiết là liệu pháp điều trị nhẹ nhàng và đem lại hiệu quả tốt đối với bệnh nhân UTV có thụ thể nội tiết dương tính.

Theo BS. Vũ Thị Minh Hương - Khoa Nội I, BV Ung Bướu Hà Nội: Điều trị nội tiết trong ung thư vú giúp làm chậm hoặc ngăn chặn sự phát triển của các khối u vú nhạy cảm với nội tiết bằng cách tác động lên thụ thể nội tiết trên bề mặt các tế bào ung thư, ngăn tổng hợp hormone. Các khối u không có các thụ thể nội tiết trên bề mặt tế bào u không đáp ứng với điều trị nội tiết. Các bác sỹ sẽ đánh giá khối u của bạn bằng biện pháp sinh thiết hoặc làm xét nghiệm sau khi khối u bị lấy bỏ bởi phẫu thuật. Các khối u được coi là nhạy với điều trị nội tiết khi trên bề mặt tế bào ung thư có các thụ thể estrogen (ER dương tính) hay thụ thể progesteron (PR dương tính).

Về phương pháp điều trị nội tiết đối với ung thư vú, BS Hương cho biết có nhiều biện pháp như: Ức chế buồng trứng, làm giảm sản xuất estrogen, ngăn tác dụng của estrogen. Trong đó, ức chế chức năng buồng trứng giúp làm giảm lượng hormone trong cơ thể từ đó ngăn chặn sự phát triển của các khối u vú (buồng trứng là nơi sản xuất estrogen chủ yếu ở các phụ nữ chưa mãn kinh). Có nhiều biện pháp ức chế buồng trứng như cắt buồng trứng bằng phẫu thuật hoặc xạ trị hay bằng thuốc đồng vận GnRH (gonadotropin-releasing hormone). Các thuốc đồng vận này ngăn chặn tín hiệu từ vùng dưới đồi đến kích thích buồng trứng sản sinh estrogen.

Liệu pháp nội tiết trong điều trị ung thư vú - ảnh 1
Xạ trị - một trong các biện pháp giúp ức chế buồng trứng

Để làm giảm sản xuất estrogen, bác sỹ sẽ sử dụng các thuốc ức chế aromatase – một enzym giúp tạo ra estrogen từ các mô khác trong cơ thể. Các thuốc này thường được sử dụng với các bệnh nhân đã mãn kinh vì buồng trứng của các bệnh nhân này không còn sản xuất estrogen nhưng sản xuất ra một lượng lớn aromatase, do đó làm tăng đáp ứng với thuốc. Tuy nhiên, thuốc ức chế aromatase cũng có thể dùng đối với các phụ nữ tiền mãn kinh nếu họ được sử dụng các biện pháp ức chế buồng trứng khác kèm theo.

Ngăn tác dụng của estrogen có thể thực hiện nhờ thuốc điều biến chọn lọc thụ thể estrogen (selective estrogen receptor modulators – nhóm thuốc SERMs): các thuốc này gắn cạnh tranh với thụ thể estrogen, ngăn tác động của hormon estrogen lên các tế bào. Ví dụ: tamoxifen (Nolvadex) và toremifene (Fareston); và các thuốc khác: như fulvestrant (Faslodex), làm giảm tác dụng của estrogen theo cơ chế khác.

Tuy nhiên, không phải mọi trường họp ung thư vú đều được khuyến cáo áp dụng phương pháp này. Thông thường, điều trị nội tiết trong ung thư vú được chỉ định để điều trị bổ trợ đối với ung thư vú giai đoạn sớm: Sử dụng thuốc nội tiết ít nhất 5 năm đối với các bệnh nhân ung thư vú có thụ thể nội tiết dương tính ở giai đoạn sớm đã phẫu thuật giúp giảm thiểu nguy cơ tái phát ung thư vú. Các thuốc nội tiết bao gồm: thuốc nội tiết bậc 1 (tamoxifene, toremifene) đối với bệnh nhân trước hay sau mãn kinh và thuốc nội tiết bậc 2 (thuốc kháng aromatase) bao gồm anastrozole, letrozole, exemestane đối với các bệnh nhân đã mãn kinh.

Điều trị nội tiết cũng được khuyến cáo trong giai đoạn tiến triển hoặc di căn. Các thuốc nội tiết được chỉ định cho giai đoạn này bao gồm: thuốc nhóm SERMs (tamoxifene, toremifene), thuốc nhóm AIs (anastrozole, letrozole), fulvestrant. Bác sỹ có thể kết hợp thuốc nội tiết và thuốc điều trị đích: gần đây nhiều nghiên cứu đã được thực hiện và chứng minh được vai trò của điều trị kết hợp thuốc nội tiết và các thuốc điều trị đích. Đối với bệnh nhân có thụ thể nội tiết dương tính, HER2 âm tính, các thuốc ức chế mTOR (như everolimus..v.v.), ức chế CDK 4/6 (như abemaciclib, palbociclib, ribociclib..v.v.) kết hợp với điều trị nội tiết cho kết quả điều trị tốt hơn so với điều trị nội tiết đơn thuần.

Điều trị tân bổ trợ UTV: mục đích của điều trị tân bổ trợ UTV là nhằm giảm kích thước u, tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú triệt văn hay phẫu thuật bảo tồn vú. Nhiều thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh được vai trò của các thuốc AIs trong điều trị bổ trợ trước mổ ở các bệnh nhân UTV đã mãn kinh. Vai trò này chưa rõ ràng đối với các bệnh nhân chưa mãn kinh. Tuy nhiên, chưa có thuốc nội tiết nào được Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug Administration - FDA) chấp thuận trong điều trị tân bổ trợ UTV. Trong tương lai, đây hứa hẹn sẽ là hướng đi mới, cần được nghiên cứu kỹ hơn trước khi đưa vào áp dụng với nhiều ưu điểm so với điều trị hóa chất tân bổ trợ.

Đặc biệt, BS. Vũ Thị Minh Hương thông tin: Liệu pháp nội tiết có thể dự phòng ung thư vú, vì đa số UTV có thụ thể nội tiết dương tính. Các thuốc tamoxifen, raloxifen, exemestane, anastrozole đã được công nhận vai trò làm giảm nguy cơ mắc UTV trên các phụ nữ có nguy cơ cao như có tiền sử gia đình có người mắc UTV, tuổi từ 40 đến 60, béo phì, ít vận động, sử dụng thuốc tránh thai.

Tuy nhiên, cũng có tác dụng không mong muốn thường gặp của thuốc nội tiết tùy thuộc vào loại thuốc nội tiết: Hay gặp là bốc hỏa, đổ mồ hôi về đêm, khô âm đạo, rối loạn chu kỳ kinh nguyệt đối với các bệnh nhân chưa mãn kinh. Ngoài ra, sử dụng tamoxifen làm tăng nguy cơ tạo các cục máu đông, tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung hay loãng xương. Vì vậy, cần tránh sử dụng tamoxifen cùng với các thuốc chống đông máu. Khi có chỉ định điều trị các thuốc này, người bệnh nên đến gặp bác sỹ để có hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý.

Tin cùng chuyên mục

Phòng chống ngộ độc rượu bia ngày Tết

Phòng chống ngộ độc rượu bia ngày Tết

(PNTĐ) - Nhiều người quan niệm ngày Tết, gặp nhau mời uống một chút rượu, chút bia để chúc sức khỏe là điều vui mừng. Tuy nhiên uống nhiều rượu bia, đặc biệt ép nhau uống rượu bia thì vừa có hại cho sức khỏe, vừa không phải là nét “văn hóa” đẹp.
Phòng tránh tai nạn cho trẻ trong dịp Tết

Phòng tránh tai nạn cho trẻ trong dịp Tết

(PNTĐ) - Vào những ngày Tết, trẻ được nghỉ học dài, nhu cầu về quê đón Tết, du lịch của các gia đình tăng cao, cùng với đó là các hoạt động liên hoan, ăn uống, vui chơi cũng diễn ra liên tục. Vì vậy, trẻ nhỏ có thể gặp nhiều nguy cơ tai nạn thương tích trong những ngày Tết.
Cẩn thận vì thói quen ngậm tăm xỉa răng sau khi ăn

Cẩn thận vì thói quen ngậm tăm xỉa răng sau khi ăn

(PNTĐ) - Ngày 19/1, Bệnh viện Đa khoa trung ương Cần Thơ cho biết vừa phẫu thuật lấy thành công chiếc tăm tre nhọn gây thủng thành ruột non đoạn tá tràng xuyên qua tĩnh mạch chủ dưới đến cơ thắt lưng chậu, biến chứng nhiễm trùng toàn thân nặng và áp xe cơ thắt lưng chậu của nam bệnh nhân L.Q.M (59 tuổi; ngụ TP Cần Thơ).