Chè trôi nước ngày xuân
(PNTĐ) - Trong những mâm bánh mứt, trái cây ngày Tết, giữa bao nhiêu món cầu kỳ và rực rỡ, bát chè trôi nước tròn trịa vẫn luôn có một chỗ đứng rất riêng.
Không huy hoàng như bánh chưng (bánh tét), không rộn ràng như mứt Tết, chè trôi nước hiện diện nhẹ nhàng, tròn trịa và ngọt ngào, như chính mong ước bình an của người Việt mỗi độ xuân về.
Năm nào cũng vậy, những ngày cận Tết là căn bếp nhà tôi lại ấm hơn bởi than củi và những hương vị món ăn của ngày Tết cổ truyền. Mẹ và bà hết sên mứt rồi lại nấu bánh tét, bánh chưng. Đặc biệt, cứ vào 30 Tết là hai người phụ nữ kính yêu trong nhà vẫn không quên chuẩn bị nguyên liệu để làm chè trôi nước nghênh xuân. Để mặc nồi bánh chưng đang sôi ùng ục, mẹ quay sang xay bột, làm màu. Rồi mẹ và bà nhào bột nếp, đôi bàn tay chai sần thoăn thoắt, vừa làm vừa kể chuyện xa xưa: Chung quy cũng là chuyện bếp núc gian truân của người phụ nữ thôn quê. Bột trắng nguyên thủy, bột xanh từ lá dứa, bột tím sen của lá cẩm, bột cam từ quả gấc, bột đỏ từ củ dền… được chia thành từng phần nhỏ rất dễ thương. Mỗi màu là một chút sáng tạo, một chút niềm vui, khiến món chè trôi nước ngày Tết không chỉ để ăn, mà còn để ngắm, để đợi chờ.

Anh chị em chúng tôi được phân nhiệm vụ vo viên bột - điều mà trẻ con rất thích vì gần gũi như một trò chơi dân gian. Những viên bột tròn xoe, được mẹ cẩn thận bọc vào nhân đậu xanh ngọt bùi, nằm yên trên mâm trông rất thú vị. Chốc chốc thằng Út len lén cho một viên nhân đậu xanh vào miệng rồi nhai vội để tránh những ánh nhìn ganh tị của anh chị. Nhưng làm sao thoát được hai đôi mắt tinh ý của mẹ và bà. Dù vậy, bà chỉ nhìn Út trìu mến rồi bảo: “Một chút còn dư nhân bà sẽ cho ăn mà!”. Bà xoa dịu anh chị em tôi thế thôi, chứ lần nào nhân cũng thiếu. Thế là chúng tôi có thêm nhiệm vụ vo những viên chè ỷ nhỏ xíu bằng viên bi.
Nước chè được nấu cùng đường thốt nốt hoặc đường phèn, thêm một bó lá dứa dậy mùi và vài lát gừng tươi. Khi bà thả bột vào nồi nước sôi, chúng chìm xuống rồi từ từ nổi lên, trong sự háo hức của những đôi mắt ngây thơ. Khoảnh khắc mong đợi ấy lúc nào cũng khiến anh chị em tôi khoái chí. Có lẽ vì cái tên “trôi nước” không chỉ gợi cách nấu, mà còn mang theo niềm tin rằng mọi điều khó khăn rồi cũng sẽ qua, để những điều tốt đẹp, vui tươi nổi lên trên mặt đời. Bà múc chè ra bát, rắc thêm ít mè rang, chan chút nước cốt dừa béo nhẹ, bát chè trôi nước bỗng trở thành một bức tranh xuân thu nhỏ: tròn đầy, đủ sắc, đủ hương. Ba có nhiệm vụ bưng mâm chè lên bàn thờ gia tiên, cúng kiếng cùng với những vật phẩm khác.
Ngày Tết, người ta ăn chè trôi nước không chỉ vì ngon, đó còn là món ăn của sự sum vầy. Cả nhà quây quần bên mâm chè, mỗi người một bát nhỏ, vừa ăn vừa trò chuyện rôm rả. Người lớn nhắc chuyện năm cũ, trẻ con háo hức với những điều sắp tới ở tương lai. Những viên chè tròn trịa như nhắc nhau về hai chữ “đoàn viên”, về mong ước mọi sự trong năm mới được trôi chảy, êm đềm.
Ở mỗi vùng, chè trôi nước có một cách nấu khác nhau. Có nơi giữ màu trắng truyền thống, có nơi biến tấu ngũ sắc (5 màu) cho thêm phần rực rỡ ngày xuân. Dù khác nhau về hình thức, điểm chung vẫn là tính cổ truyền và ý nghĩa xa xưa. Món chè không đòi hỏi nguyên liệu đắt tiền, nhưng lại chứa đựng nhiều tình cảm và ký ức. Có lẽ vì thế mà qua bao năm, chè trôi nước vẫn hiện diện trong những ngày lễ Tết nhà tôi như một thói quen khó bỏ.
Tôi đã từng ăn chè trôi nước ở nhiều nơi, nhưng bát chè ngày Tết quê nhà vẫn luôn là ngon nhất. Không hẳn vì vị ngọt hay độ dẻo của bột, mà vì trong đó có bàn tay tảo tần của mẹ, có giọt mồ hôi của bà, có tiếng cười của đàn em thơ, có cả không khí xuân rất riêng mà đi xa rồi mới thấy thương thấy nhớ. Giữa nhịp sống ngày càng nhanh, những món ăn truyền thống như chè trôi nước dường như nhắc người ta sống chậm lại. Để thấy rằng, hạnh phúc đôi khi chỉ là một bát chè ấm, vài viên bột tròn đủ màu, và những người thân ngồi cạnh nhau trong những ngày đầu năm mới sum vầy.












